Mã tỉnh thành
44
Đơn vị hành chính
78 phường/xã
Diện tích
12700.00 km²
Dân số
1.58 triệu người
Mã điện thoại
232
GRDP
113.7 nghìn tỷ
GRDP/người
60.8 triệu VNĐ
Thu ngân sách
12.1 nghìn tỷ
Trung tâm hành chính
Đồng Hới City, Quảng Bình
Vùng kinh tế
BẮC TRUNG BỘ
69 Xã 8 Phường 1 Đặc khu
Mã điện thoại: +0084 - 0230232
Vùng: Miền trung
Vùng kinh tế: Bắc Trung Bộ
Biển số xe: 73,74
Thấp nhất Cao nhất
188 người 84.196 người
xã Tuyên Phú phường Đồng Hới
Đường bờ biển: Có bờ biển
Giáp biên giới: Lào
Nhỏ nhất Lớn nhất
20.45 km² 1091.53 km²
phường Ba Đồn phường Thượng Trạch
Thấp nhất Cao nhất
1 người/km² 2.036 người/km²
xã Tuyên Phú phường Đồng Hới
Bí thư Thành ủy:
Nguyễn Văn Phương
Chủ tich UBND:
Lê Hồng Vinh
Bí thư Tỉnh ủy:
Nguyễn Văn Phương
Chủ tich UBND:
Lê Hồng Vinh
Quảng Trị là tỉnh ven biển thuộc khu vực Bắc Trung Bộ, có vị trí chiến lược quan trọng trong kết nối giữa các tỉnh miền Trung và tuyến hành lang kinh tế ven biển. Tỉnh nằm giữa Thừa Thiên – Huế ở phía Bắc và Quảng Bình ở phía Nam, tiếp giáp với Lào ở phía Tây, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển giao thương liên vùng và kinh tế cửa khẩu.
Tỉnh có diện tích khoảng 4.739 km², dân số khoảng 600.000–650.000 người và lực lượng lao động khoảng 300.000–320.000 người. Dân số tập trung chủ yếu ở các huyện đồng bằng ven biển và trung tâm hành chính – thành phố Đông Hà, trong khi khu vực miền núi phía Tây có mật độ dân số thấp hơn, chủ yếu sống dựa vào nông – lâm nghiệp.
Quảng Trị có hệ thống sông ngòi khá phong phú, nổi bật là Sông Thạch Hãn và Sông Bến Hải, chảy ra Biển Đông. Các tuyến sông này không chỉ cung cấp nước tưới cho nông nghiệp mà còn là tuyến giao thông nội địa quan trọng, đồng thời góp phần phát triển thủy sản và dịch vụ kinh tế biển.
Với vị trí địa lý nằm ở trung tâm hành lang kinh tế Bắc – Nam, có cả vùng đồng bằng ven biển và miền núi Tây Trường Sơn, Quảng Trị sở hữu tiềm năng phát triển kinh tế – xã hội đa dạng, từ nông – lâm – ngư nghiệp đến công nghiệp nhẹ, dịch vụ và du lịch lịch sử – sinh thái.
Nguồn: https://nhandan.vn/
Nguồn: https://nhandan.vn/
Hiện nay, Quảng Trị được tổ chức thành 10 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 8 huyện:
Thành phố: Đông Hà – trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và giáo dục của tỉnh.
Thị xã: Quảng Trị – trung tâm hành chính cũ của tỉnh, nằm gần khu vực biên giới.
Các huyện: Gio Linh, Vĩnh Linh, Triệu Phong, Hải Lăng, Cam Lộ, Đakrông, Hướng Hóa, và Tây Hà – kết hợp đồng bằng ven biển và miền núi phía Tây, với nhiều đặc trưng kinh tế và văn hóa khác nhau.
Các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh bao gồm hơn 130 xã, phường và thị trấn, trong đó các xã miền núi chiếm tỉ trọng lớn, tập trung vào phát triển nông – lâm nghiệp, trong khi các phường, thị trấn ở thành phố và vùng đồng bằng ven biển là trung tâm dịch vụ, thương mại và hành chính.
Về không gian phát triển, trung tâm đô thị của tỉnh – Đông Hà – giữ vai trò hạt nhân của tăng trưởng kinh tế, hành chính và dịch vụ. Khu vực ven biển đồng bằng như Gio Linh, Triệu Phong, Hải Lăng được định hướng phát triển nông nghiệp công nghệ cao, logistics và dịch vụ cảng biển. Khu vực miền núi phía Tây như Hướng Hóa và Đakrông tập trung phát triển nông – lâm nghiệp, du lịch sinh thái, bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số và quốc phòng – an ninh biên giới.
Như vậy, Quảng Trị hiện có cấu trúc hành chính đa dạng, kết hợp các khu vực đồng bằng, ven biển và miền núi, đồng thời phân bổ các trung tâm phát triển kinh tế – xã hội theo hướng bền vững và cân bằng giữa các vùng.
Nguồn: UBND TPHCM, tư liệu tuổi trẻ.
Quảng Trị giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế ven biển Bắc Trung Bộ, đồng thời là cửa ngõ kết nối kinh tế với khu vực Tây Nguyên và các tỉnh lân cận. Theo báo cáo của Cổng thông tin điện tử tỉnh, năm 2025, quy mô GRDP của tỉnh ước đạt khoảng 40.500 tỷ đồng, tương đương khoảng 1,7 tỷ USD, trong đó GRDP bình quân đầu người đạt khoảng 62 triệu đồng/năm. Tốc độ tăng trưởng GRDP năm 2025 ước đạt 6,8%, phản ánh sự ổn định trong phát triển kinh tế, chủ yếu nhờ các lĩnh vực nông – lâm – thủy sản, công nghiệp nhẹ và dịch vụ.
Cơ cấu kinh tế của tỉnh tiếp tục chuyển dịch theo hướng hiện đại, trong đó:
Nông – lâm – thủy sản: vẫn giữ vai trò nền tảng, chiếm khoảng 35–40% GRDP, nổi bật với sản xuất lúa, hải sản và rừng trồng.
Công nghiệp – xây dựng: chiếm khoảng 30–35% GRDP, tập trung vào công nghiệp chế biến thủy sản, gỗ, vật liệu xây dựng và khu kinh tế – công nghiệp Khu kinh tế Đông Hà – Quảng Trị.
Dịch vụ: chiếm khoảng 25–30% GRDP, trong đó dịch vụ thương mại, vận tải, logistics và du lịch biển đảo phát triển tương đối nhanh, đặc biệt là du lịch sinh thái, du lịch lịch sử và du lịch tâm linh.
Năm 2025, tổng vốn đầu tư toàn xã hội tại Quảng Trị đạt khoảng 8.900 tỷ đồng, trong đó đầu tư FDI đạt hơn 50 triệu USD, phản ánh sức hút ngày càng tăng từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Về định hướng trung và dài hạn, tỉnh xác định phát triển các ngành kinh tế chiến lược như:
Nông nghiệp công nghệ cao, thủy sản chế biến, nuôi trồng hải sản;
Công nghiệp nhẹ và chế biến lâm sản, thủy sản;
Dịch vụ logistics cảng biển, dịch vụ du lịch biển đảo và du lịch lịch sử – văn hóa;
Phát triển hạ tầng, năng lượng sạch và kết nối giao thông liên vùng, gắn với mục tiêu nâng cao GRDP bình quân đầu người và tạo nền tảng phát triển bền vững.
Như vậy, Quảng Trị đang từng bước chuyển mình thành một tỉnh phát triển đa ngành, cân bằng giữa nông – lâm – thủy sản, công nghiệp và dịch vụ, đồng thời tận dụng thế mạnh biển, đảo và vị trí chiến lược ven biên giới để thu hút đầu tư và du lịch.
Nguồn: https://thongke.cesti.gov.vn/phan-tich-thong-ke/ket-qua-thong-ke/1485-so-lieu-thong-ke-ve-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-tphcm-2025
Nguồn: https://thongke.cesti.gov.vn/phan-tich-thong-ke/ket-qua-thong-ke/1485-so-lieu-thong-ke-ve-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-tphcm-2025
Nguồn: https://thongke.cesti.gov.vn/phan-tich-thong-ke/ket-qua-thong-ke/1485-so-lieu-thong-ke-ve-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-tphcm-2025
Nguồn: https://thongke.cesti.gov.vn/phan-tich-thong-ke/ket-qua-thong-ke/1485-so-lieu-thong-ke-ve-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-tphcm-2025
Quảng Trị là một tỉnh ven biển Bắc Trung Bộ, có vị trí chiến lược trong hành lang kinh tế Đông – Tây và tuyến Bắc – Nam, đồng thời là cửa ngõ giao thông quan trọng giữa miền Trung Việt Nam và khu vực Tây Nguyên.
Về đường bộ, tỉnh kết nối liên vùng bằng nhiều trục quốc gia và đường cao tốc, trong đó:
Quốc lộ 1A chạy dọc ven biển qua các huyện đồng bằng và trung tâm đô thị, là trục xương sống của giao thông Bắc – Nam.
Quốc lộ 9 nối từ Đông Hà về phía Tây đến biên giới với Lào, tạo hành lang thương mại xuyên biên giới và kết nối với các tỉnh Tây Nguyên.
Đường cao tốc và các tuyến tỉnh lộ đang được cải tạo, nâng cấp để tăng khả năng kết nối với cảng biển, khu công nghiệp và khu vực miền núi phía Tây.
Về hàng không, sân bay Sân bay Quảng Trị đang được quy hoạch nâng cấp thành sân bay nội địa với khả năng đón các chuyến bay thương mại nhỏ, góp phần thúc đẩy du lịch và giao thương với các tỉnh miền Trung. Hiện tại, các chuyến bay thương mại chủ yếu sử dụng sân bay quốc tế gần đó như Sân bay Phú Bài.
Về cảng biển, Quảng Trị có vị trí thuận lợi để phát triển kinh tế biển:
Cảng biển Cửa Việt (thuộc huyện Gio Linh) là cảng chính, phục vụ xuất – nhập khẩu hàng hóa, hàng thủy sản và kết nối logistics với các tỉnh miền Trung.
Các bến cảng nhỏ dọc ven biển như Cửa Tùng, Cửa Việt – Đông Hà hỗ trợ phát triển thủy sản và giao thông nội địa.
Theo quy hoạch đến năm 2030, hệ thống cảng biển của tỉnh dự kiến tăng năng lực xếp dỡ, kết nối với tuyến đường cao tốc và hành lang Bắc – Nam, tạo thuận lợi cho kinh tế biển và thương mại ven biển.
Hạ tầng giao thông nội tỉnh cũng đang được chú trọng: nâng cấp đường ven biển, cầu vượt sông, đường nối các huyện miền núi và trung tâm hành chính, nhằm tạo kết nối đồng bộ giữa đô thị, khu kinh tế, nông thôn và biên giới. Hệ thống giao thông kết hợp đường bộ – đường biển – hành lang ven sông giúp tỉnh vừa phát triển du lịch, vừa nâng cao năng lực xuất – nhập khẩu hàng hóa.
Như vậy, hạ tầng và giao thông của Quảng Trị đang trong quá trình phát triển đồng bộ, gắn với mục tiêu trở thành trung tâm logistics, du lịch và thương mại quan trọng của Bắc Trung Bộ, đồng thời khai thác tối đa lợi thế vị trí ven biển và hành lang kinh tế xuyên biên giới.
Cảng Hiệp Phước
Sân bay Tân Sơn Nhất
Cảng Cát lái
Cao tốc Long Thành-Dầu Giây
Hiện nay, Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh là ông Trần Lưu Quang; Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là ông Nguyễn Văn Được. Thông tin này được thể hiện trong danh sách Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố nhiệm kỳ 2025–2030 và trong thông tin công bố của HĐND, UBND thành phố đầu năm 2026.
Bí thư Thành ủy:
Trần Lưu Quang
Chủ tich UBND:
Nguyễn Văn Được
Về biển số xe, tỉnh Quảng Trị sử dụng ký hiệu 74 theo hệ thống phân cấp biển số xe của Việt Nam. Đây là mã biển số được áp dụng thống nhất trên toàn địa bàn tỉnh.
Về mã vùng điện thoại cố định, tỉnh Quảng Trị sử dụng mã vùng 0233. Mã này được áp dụng cho tất cả các khu vực trong tỉnh theo quy định hiện hành. Vì vậy, khi ghi thông tin liên hệ, chỉ cần sử dụng mã vùng 0233 là phù hợp.
Về địa giới hành chính, tỉnh Quảng Trị hiện nay vẫn giữ nguyên ranh giới như đơn vị hành chính cấp tỉnh trước đây, không có sự hợp nhất hay thay đổi lớn về quy mô lãnh thổ trong thời gian gần đây. Tỉnh có diện tích khoảng 4.739 km² và dân số hơn 600 nghìn người theo các số liệu thống kê gần đây.
Theo các tài liệu địa lý, tỉnh Quảng Trị nằm ở khu vực Bắc Trung Bộ, phía bắc giáp tỉnh Quảng Bình, phía nam giáp tỉnh Thừa Thiên Huế, phía tây giáp nước Lào và phía đông giáp Biển Đông. Không gian lãnh thổ của tỉnh kéo dài từ vùng núi phía tây đến đồng bằng ven biển và dải cát ven biển ở phía đông.
Vì vậy, khi mô tả biên giới hành chính hiện nay, có thể sử dụng các thông tin trên mà không cần điều chỉnh như trường hợp các địa phương có sự thay đổi về địa giới.
nằm tại phường 2, thị xã Quảng Trị, là một trong những di tích lịch sử quốc gia đặc biệt tiêu biểu của Việt Nam. Nơi đây gắn liền với cuộc chiến 81 ngày đêm năm 1972 – một trong những trận chiến ác liệt nhất trong lịch sử hiện đại. Trong thời gian đó, bom đạn đã tàn phá dữ dội, nhưng quân và dân ta vẫn kiên cường bám trụ, chiến đấu đến cùng để bảo vệ từng tấc đất. Chính vì vậy, Thành cổ được xem như “nghĩa trang không nấm mồ”, nơi ghi dấu sự hy sinh to lớn của hàng vạn chiến sĩ. Ngày nay, khu di tích được tu bổ khang trang với đài tưởng niệm, công viên và không gian xanh, trở thành nơi để nhân dân cả nước và du khách đến dâng hương, tưởng nhớ và tìm hiểu lịch sử. Đây không chỉ là một điểm tham quan mà còn là nơi giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc và ý thức bảo vệ Tổ quốc cho thế hệ trẻ.
thuộc thôn Vịnh Mốc, xã Vĩnh Thạch, huyện Vĩnh Linh, là một trong những hệ thống địa đạo nổi tiếng và độc đáo nhất Việt Nam. Địa đạo được đào sâu trong lòng đất với cấu trúc gồm ba tầng, có độ sâu từ khoảng 10 đến hơn 20 mét, tổng chiều dài gần 2 km. Bên trong địa đạo có đầy đủ các công trình phục vụ sinh hoạt như nhà ở, phòng họp, bệnh xá, giếng nước, nhà hộ sinh,… tạo thành một “ngôi làng dưới lòng đất”. Trong thời chiến, hàng trăm người dân đã sống và sinh hoạt tại đây trong thời gian dài để tránh bom đạn. Điều đặc biệt là cuộc sống vẫn được duy trì bình thường, thậm chí có nhiều em bé được sinh ra ngay trong địa đạo. Ngày nay, địa đạo Vịnh Mốc trở thành điểm tham quan hấp dẫn, giúp du khách hiểu rõ hơn về cuộc sống gian khổ nhưng đầy nghị lực của người dân Quảng Trị trong chiến tranh.
nằm tại xã Vĩnh Thành, huyện Vĩnh Linh, là một di tích lịch sử quốc gia đặc biệt mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Sau Hiệp định Genève năm 1954, sông Bến Hải được chọn làm giới tuyến quân sự tạm thời, chia cắt đất nước thành hai miền Nam – Bắc. Cầu Hiền Lương bắc qua dòng sông này trở thành chứng nhân lịch sử của nỗi đau chia cắt, khi biết bao gia đình phải sống trong cảnh ly tán suốt nhiều năm. Ngoài ra, nơi đây còn diễn ra những cuộc “đấu tranh đặc biệt” như cuộc chiến loa phóng thanh, cờ, màu sơn… thể hiện tinh thần kiên cường của nhân dân hai miền. Ngày nay, khu di tích đã được phục dựng và bảo tồn, trở thành điểm đến để du khách tham quan, tìm hiểu lịch sử và cảm nhận giá trị của hòa bình, thống nhất đất nước.
nằm tại xã Vĩnh Thành, huyện Vĩnh Linh, là một di tích lịch sử quốc gia đặc biệt mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Sau Hiệp định Genève năm 1954, sông Bến Hải được chọn làm giới tuyến quân sự tạm thời, chia cắt đất nước thành hai miền Nam – Bắc. Cầu Hiền Lương bắc qua dòng sông này trở thành chứng nhân lịch sử của nỗi đau chia cắt, khi biết bao gia đình phải sống trong cảnh ly tán suốt nhiều năm. Ngoài ra, nơi đây còn diễn ra những cuộc “đấu tranh đặc biệt” như cuộc chiến loa phóng thanh, cờ, màu sơn… thể hiện tinh thần kiên cường của nhân dân hai miền. Ngày nay, khu di tích đã được phục dựng và bảo tồn, trở thành điểm đến để du khách tham quan, tìm hiểu lịch sử và cảm nhận giá trị của hòa bình, thống nhất đất nước.
nằm tại xã Vĩnh Thành, huyện Vĩnh Linh, là một di tích lịch sử quốc gia đặc biệt mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc. Sau Hiệp định Genève năm 1954, sông Bến Hải được chọn làm giới tuyến quân sự tạm thời, chia cắt đất nước thành hai miền Nam – Bắc. Cầu Hiền Lương bắc qua dòng sông này trở thành chứng nhân lịch sử của nỗi đau chia cắt, khi biết bao gia đình phải sống trong cảnh ly tán suốt nhiều năm. Ngoài ra, nơi đây còn diễn ra những cuộc “đấu tranh đặc biệt” như cuộc chiến loa phóng thanh, cờ, màu sơn… thể hiện tinh thần kiên cường của nhân dân hai miền. Ngày nay, khu di tích đã được phục dựng và bảo tồn, trở thành điểm đến để du khách tham quan, tìm hiểu lịch sử và cảm nhận giá trị của hòa bình, thống nhất đất nước.