Mã tỉnh thành
33
Đơn vị hành chính
104 phường/xã
Diện tích
2514.80 km²
Dân số
3.21 triệu người
Mã điện thoại
221
GRDP
292.6 nghìn tỷ
GRDP/người
82.0 triệu VNĐ
Thu ngân sách
53.1 nghìn tỷ
Trung tâm hành chính
Hưng Yên City
Vùng kinh tế
Đồng bằng sông Hồng
93 Xã 11 Phường
Mã điện thoại: +0084 - 0221
Vùng: Miền Bắc
Vùng kinh tế: Đồng bằng sông Hồng
Biển số xe: 17, 89
Thấp nhất Cao nhất
25 người 227.817 người
xã Đồng Bằng phường Trần Lãm
Đường bờ biển: Có bờ biển
Giáp biên giới: Không
Nhỏ nhất Lớn nhất
9.32 km² 288.36 km²
phường Trần Hưng Đạo xã Lê Lợi
Thấp nhất Cao nhất
1 người/km² 4.899 người/km²
xã Đồng Bằng phường Trần Hưng Đạo
Bí thư Tỉnh ủy:
Trần Lưu Quang
Chủ tich UBND:
Nguyễn Văn Được
Bí thư Thành ủy:
Nguyễn Hữu Nghĩa
Chủ tich UBND:
Phạm Quang Ngọc
Sau khi sáp nhập đơn vị hành chính, tỉnh Hưng Yên được mở rộng đáng kể về cả diện tích lẫn dân số do hợp nhất với Thái Bình. Từ một tỉnh nhỏ nằm hoàn toàn trong nội đồng, Hưng Yên trở thành một tỉnh có quy mô lớn hơn nhiều và có lãnh thổ trải dài từ khu vực giáp Hà Nội đến vùng ven biển phía đông. Nhờ đó, vị trí địa lí của tỉnh không còn chỉ gắn với vùng trung tâm đồng bằng sông Hồng mà còn có thêm không gian phát triển kinh tế biển, giao thông và đô thị ven biển. Quy mô mới này giúp tỉnh có dân số đông hơn, diện tích lớn hơn và vai trò kinh tế – địa lí quan trọng hơn trong toàn vùng Bắc Bộ.
Nguồn: https://cellphones.com.vn/sforum/anh-dep-hung-yen
Nguồn: https://cellphones.com.vn/sforum/anh-dep-hung-yen
Sau khi sáp nhập, cơ cấu hành chính của tỉnh Hưng Yên được tổ chức lại theo mô hình một tỉnh có quy mô lớn, gồm nhiều đơn vị hành chính cấp huyện và cấp xã hơn so với trước đây. Tỉnh bao gồm các thành phố trực thuộc, các thị xã và các huyện được hình thành từ cả Hưng Yên cũ và Thái Bình trước đây. Trung tâm hành chính của tỉnh vẫn đặt tại thành phố Hưng Yên, nơi tập trung các cơ quan lãnh đạo và quản lí cấp tỉnh.
Ở cấp dưới, tỉnh được chia thành các đơn vị hành chính cấp huyện gồm thành phố, thị xã và huyện; dưới nữa là các xã, phường và thị trấn. Sau quá trình sắp xếp, một số đơn vị được sáp nhập để giảm số lượng đầu mối, giúp bộ máy quản lí tinh gọn hơn nhưng vẫn đảm bảo quản lí được địa bàn rộng và dân số đông. Nhìn chung, cơ cấu hành chính sau sáp nhập mang tính mở rộng về quy mô nhưng theo hướng tổ chức lại để hoạt động hiệu quả và thống nhất trên toàn tỉnh.
Nguồn: https://chinhquyen02cap.hungyen.gov.vn/ban-do-hanh-chinh
Sau khi sáp nhập và mở rộng địa giới hành chính, kinh tế Hưng Yên có điều kiện phát triển theo hướng toàn diện và đa dạng hơn nhiều so với trước. Nếu như trước đây, cơ cấu kinh tế của Hưng Yên chủ yếu dựa trên hai trụ cột là công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và nông nghiệp đồng bằng truyền thống, thì sau khi mở rộng, tỉnh có thêm nhiều dư địa mới để phát triển. Việc hợp nhất không chỉ làm tăng quy mô diện tích và dân số, mà còn bổ sung những lợi thế kinh tế khác nhau giữa các vùng, tạo nên cơ cấu kinh tế phong phú hơn. Ngoài thế mạnh công nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp hàng hóa của khu vực Hưng Yên cũ, tỉnh còn tiếp nhận thêm tiềm năng nông nghiệp quy mô lớn, sản xuất lúa gạo, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và các hoạt động kinh tế ven biển từ khu vực Thái Bình. Chính điều này giúp nền kinh tế địa phương không còn phụ thuộc quá nhiều vào một vài ngành truyền thống mà chuyển dần sang mô hình phát triển đa ngành, đa lĩnh vực.
Một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh là vị trí địa lý rất thuận lợi. Hưng Yên nằm gần Hà Nội, kết nối trực tiếp với các trung tâm kinh tế lớn của miền Bắc, đồng thời thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ nên có nhiều lợi thế trong thu hút đầu tư, giao thương hàng hóa và phát triển hạ tầng. Hệ thống giao thông ngày càng hoàn thiện, bao gồm các tuyến quốc lộ, đường cao tốc, đường tỉnh và mạng lưới đường thủy nội địa, đã tạo điều kiện để tỉnh mở rộng liên kết vùng, rút ngắn thời gian vận chuyển nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm. Nhờ đó, Hưng Yên trở thành điểm đến hấp dẫn đối với nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước, đặc biệt là các nhà đầu tư vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, lắp ráp, logistics, kho bãi và xuất khẩu.
Cơ cấu kinh tế của tỉnh cũng đang chuyển dịch theo hướng hiện đại hơn, trong đó tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng nhanh, dần giữ vai trò chủ đạo trong tăng trưởng chung. Các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và các khu đô thị mới được quy hoạch, mở rộng và đầu tư đồng bộ hơn, góp phần tạo ra nhiều việc làm, tăng thu nhập cho người dân và thúc đẩy quá trình đô thị hóa. Sự phát triển của công nghiệp không chỉ dừng ở việc gia tăng số lượng nhà máy, xí nghiệp mà còn kéo theo sự phát triển của các ngành dịch vụ hỗ trợ như vận tải, thương mại, tài chính, ngân hàng, đào tạo nghề và dịch vụ dân sinh. Đây là cơ sở để tỉnh từng bước hình thành các trung tâm sản xuất và dịch vụ có sức lan tỏa lớn trong khu vực.
Dù công nghiệp và dịch vụ tăng trưởng mạnh, nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế của Hưng Yên. Với diện tích đất phù sa rộng, địa hình tương đối bằng phẳng và hệ thống sông ngòi thuận lợi, tỉnh có điều kiện phát triển nền nông nghiệp đa dạng, từ trồng lúa, cây ăn quả, rau màu đến chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản. Sau sáp nhập, quy mô sản xuất nông nghiệp được mở rộng hơn, tạo điều kiện để hình thành các vùng chuyên canh lớn, đẩy mạnh cơ giới hóa, ứng dụng khoa học kĩ thuật và phát triển nông nghiệp hàng hóa. Đây là lợi thế quan trọng giúp tỉnh vừa bảo đảm an ninh lương thực, vừa nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Đặc biệt, việc có thêm khu vực ven biển đã mở ra cho Hưng Yên những hướng phát triển mới mà trước đây tỉnh không có. Kinh tế biển trở thành một tiềm năng đáng kể với các hoạt động như nuôi trồng và khai thác thủy sản, chế biến hải sản, phát triển dịch vụ hậu cần nghề cá và giao thương đường biển. Không gian ven biển cũng tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng kết nối kinh tế với các địa phương duyên hải khác, đồng thời tăng khả năng thu hút đầu tư vào các ngành có liên quan đến cảng biển, vận tải và dịch vụ logistics. Nhờ đó, nền kinh tế của tỉnh trở nên cân đối hơn giữa khu vực nội đồng và khu vực ven biển, giữa nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ.
Nhìn chung, sau quá trình sáp nhập và mở rộng địa giới, Hưng Yên không chỉ tăng về quy mô mà còn thay đổi về chất trong cơ cấu phát triển kinh tế. Sự kết hợp giữa lợi thế công nghiệp, nông nghiệp đồng bằng, nông nghiệp quy mô lớn và tiềm năng kinh tế biển đã tạo cho tỉnh một nền tảng phát triển đa dạng, linh hoạt và có triển vọng dài hạn. Đây là điều kiện thuận lợi để Hưng Yên đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, nâng cao đời sống người dân, mở rộng đô thị hóa và từng bước khẳng định vai trò là một địa phương có vị trí quan trọng trong vùng đồng bằng sông Hồng và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
Nguồn: https://infographics.vn/hung-yen-phan-dau-den-nam-2045-tro-thanh-trung-tam-kinh-te-bien-manh-o-phia-bac/217888.vna
Sau khi mở rộng địa giới, hệ thống giao thông và hạ tầng của Hưng Yên trở nên quan trọng hơn do tỉnh nằm trên trục kết nối giữa Hà Nội với các tỉnh ven biển phía đông. Nhiều tuyến quốc lộ lớn chạy qua địa bàn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa và đi lại giữa các khu công nghiệp, đô thị và khu vực cảng biển. Việc có thêm khu vực ven biển giúp tỉnh có khả năng phát triển hệ thống cảng và logistics, từ đó tăng cường liên kết với các tuyến vận tải đường thủy và đường biển.
Bên cạnh đó, mạng lưới đường tỉnh, đường huyện và các tuyến giao thông nội vùng được nâng cấp để kết nối các địa phương sau sáp nhập, giúp việc quản lí và phát triển kinh tế diễn ra thuận lợi hơn. Hạ tầng đô thị, điện, nước và viễn thông cũng được mở rộng nhằm đáp ứng dân số đông và quá trình đô thị hóa nhanh, đặc biệt tại các khu công nghiệp và các thành phố, thị xã trong tỉnh. Nhìn chung, sau khi sáp nhập, Hưng Yên có điều kiện hình thành một hệ thống giao thông đa dạng hơn, kết hợp cả đường bộ, đường thủy và hướng ra biển, tạo nền tảng quan trọng cho phát triển kinh tế lâu dài.
Cảng Diêm Điền
Cảng Trà Lý
Cảng Ba Lạt
Lãnh đạo chủ chốt của tỉnh Hưng Yên sau khi sáp nhập gồm các chức danh đứng đầu hệ thống Đảng và chính quyền cấp tỉnh. Hiện nay, Bí thư Tỉnh ủy là Nguyễn Hữu Nghĩa, người chịu trách nhiệm lãnh đạo toàn diện về chính trị, kinh tế và tổ chức Đảng trong tỉnh.
Đứng đầu bộ máy chính quyền là Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Phạm Quang Ngọc, người phụ trách điều hành hoạt động hành chính, phát triển kinh tế – xã hội và quản lí các sở, ngành trực thuộc.
Bí thư Thành ủy:
Nguyễn Hữu Nghĩa
Chủ tich UBND:
Phạm Quang Ngọc
Về biển số xe, tỉnh sử dụng các ký hiệu 89 (mã truyền thống của Hưng Yên) và bổ sung thêm 17 do tiếp nhận địa bàn từ Thái Bình trước đây. Điều này có nghĩa là các phương tiện đăng ký trong tỉnh có thể mang một trong hai mã số này.
Về mã điện thoại cố định, Hưng Yên sử dụng mã vùng 0221. Khi gọi từ ngoài tỉnh, cần quay 0221 + số thuê bao; còn gọi quốc tế thì quay +84 221 + số thuê bao.
Sau khi sáp nhập và mở rộng địa giới, tỉnh Hưng Yên có ranh giới hành chính thay đổi rõ rệt so với trước đây. Tỉnh hiện tiếp giáp với Hà Nội ở phía bắc và tây bắc, Bắc Ninh và Hải Dương ở phía đông bắc, Hà Nam ở phía tây nam, và mở rộng xuống phía nam – đông nam giáp Nam Định và Biển Đông thông qua phần lãnh thổ ven biển trước đây của Thái Bình. Nhờ đó, Hưng Yên từ một tỉnh hoàn toàn nằm trong nội đồng đã trở thành địa phương có cả ranh giới đất liền dài và đường bờ biển, làm cho phạm vi quản lí lãnh thổ rộng hơn và vị trí địa lí mang tính chiến lược hơn trong khu vực đồng bằng sông Hồng.
Chùa Phúc Lâm là một trong những điểm đến tâm linh nổi bật của Hưng Yên, tọa lạc tại huyện Ân Thi. Ngôi chùa được nhiều người biết đến không chỉ vì giá trị tín ngưỡng mà còn bởi kiến trúc đặc sắc, bề thế và lớp sơn màu vàng rực nổi bật, nên thường được người dân gọi bằng cái tên quen thuộc là “chùa dát vàng”. Từ xa nhìn lại, chùa gây ấn tượng với vẻ ngoài nguy nga, các hạng mục công trình được xây dựng khá công phu, kết hợp hài hòa giữa đường nét kiến trúc Phật giáo truyền thống và phong cách tôn tạo hiện đại. Không gian chùa rộng rãi, thoáng đãng, có sân lớn, nhiều pho tượng, tháp và các công trình phụ trợ tạo nên vẻ trang nghiêm nhưng vẫn gần gũi. Không chỉ là nơi người dân địa phương đến lễ Phật, cầu bình an và tham gia các hoạt động tín ngưỡng, chùa Phúc Lâm còn trở thành địa điểm tham quan thu hút du khách, đặc biệt vào các dịp lễ, tết, ngày rằm hoặc đầu xuân năm mới. Sự hiện diện của ngôi chùa góp phần làm phong phú đời sống văn hóa – tâm linh của địa phương, đồng thời tạo thêm một điểm nhấn du lịch cho Hưng Yên. .
Làng hương Cao Thôn là một làng nghề truyền thống nổi tiếng thuộc xã Bảo Khê, thành phố Hưng Yên, gắn liền với nghề làm hương đã tồn tại từ hàng trăm năm nay. Đây là nơi chuyên sản xuất các loại hương phục vụ nhu cầu thờ cúng, tín ngưỡng và sinh hoạt tâm linh của người Việt. Trải qua nhiều thế hệ, nghề làm hương ở Cao Thôn vẫn được người dân gìn giữ và truyền lại, tạo nên bản sắc riêng cho vùng đất này. Để làm ra những nén hương hoàn chỉnh, người thợ phải trải qua nhiều công đoạn công phu như làm tăm, nhuộm chân hương, phối trộn nguyên liệu, se hương và phơi khô dưới nắng. Hương Cao Thôn được biết đến nhờ mùi thơm dễ chịu, thường được tạo nên từ các loại thảo mộc tự nhiên, cùng với chất lượng cháy đều và thời gian cháy ổn định. Sản phẩm của làng không chỉ được tiêu thụ trong tỉnh mà còn có mặt ở nhiều địa phương khác. Ngày nay, ngoài vai trò là nơi sản xuất, làng hương Cao Thôn còn trở thành điểm tham quan hấp dẫn, nhất là vào dịp cuối năm khi các sân phơi hương đỏ rực tạo nên khung cảnh đẹp mắt, giàu tính biểu tượng và đậm nét văn hóa truyền thống.
Phố Hiến là một khu phố cổ nổi tiếng nằm bên bờ sông Hồng, thuộc thành phố Hưng Yên, từ lâu được xem là một trong những địa danh lịch sử tiêu biểu của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Vào khoảng thế kỉ XVII – XVIII, Phố Hiến từng phát triển cực kì hưng thịnh và trở thành một trong những thương cảng sầm uất bậc nhất của nước ta, chỉ đứng sau Kinh Kỳ Thăng Long. Sự phồn vinh ấy được thể hiện rõ qua câu nói dân gian quen thuộc: “Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến.” Câu nói này không chỉ cho thấy vị trí quan trọng của Phố Hiến trong đời sống kinh tế lúc bấy giờ mà còn phản ánh vai trò nổi bật của nơi đây trong mạng lưới giao thương trong nước và quốc tế.
Nhờ nằm ở vị trí thuận lợi trên tuyến giao thông đường sông, đặc biệt là gần sông Hồng, Phố Hiến trở thành điểm dừng chân, trao đổi hàng hóa của nhiều thuyền buôn từ khắp nơi đổ về. Trong thời kì cực thịnh, nơi đây tập trung đông đảo thương nhân trong nước và thương nhân nước ngoài như người Trung Quốc, người Nhật Bản cùng các thương nhân đến từ một số nước phương Tây. Hoạt động buôn bán diễn ra sôi nổi với nhiều mặt hàng phong phú, góp phần làm cho Phố Hiến trở thành một đô thị thương mại nhộn nhịp và giàu có. Sự giao lưu kinh tế lâu dài ấy cũng tạo điều kiện cho nhiều nền văn hóa gặp gỡ, tiếp xúc và ảnh hưởng lẫn nhau ngay trên mảnh đất này.
Chính quá trình giao thương quốc tế đã làm nên nét đặc sắc riêng cho Phố Hiến. Không chỉ là nơi buôn bán, Phố Hiến còn là không gian hội tụ văn hóa đa dạng, được thể hiện qua hệ thống di tích kiến trúc cổ còn lưu giữ đến ngày nay. Tại đây có nhiều đền, chùa, miếu, văn chỉ và hội quán mang dấu ấn lịch sử rõ nét, trong đó có những công trình gắn với cộng đồng người Hoa từng sinh sống và buôn bán ở khu vực này. Những di tích ấy không chỉ có giá trị về mặt kiến trúc nghệ thuật mà còn phản ánh sinh động quá trình phát triển hưng thịnh của một thương cảng cổ nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam.
Ngày nay, dù không còn giữ vai trò là một thương cảng lớn như trước, Phố Hiến vẫn bảo tồn được nhiều giá trị lịch sử và văn hóa quý báu. Nơi đây đã trở thành một điểm du lịch văn hóa – lịch sử tiêu biểu của tỉnh Hưng Yên, thu hút đông đảo du khách đến tham quan, tìm hiểu và chiêm ngưỡng vẻ đẹp cổ kính của các công trình xưa. Khi đến Phố Hiến, du khách không chỉ được khám phá những di tích lâu đời mà còn có cơ hội hiểu thêm về một thời kì phát triển rực rỡ của thương mại đường sông và giao thương quốc tế ở Việt Nam. Vì vậy, Phố Hiến không chỉ là niềm tự hào của Hưng Yên mà còn là một địa danh có ý nghĩa lớn trong việc nghiên cứu lịch sử, văn hóa và kinh tế đô thị cổ của dân tộc.
Cánh đồng hoa cúc chi Nghĩa Trai là một hình ảnh rất đặc trưng của vùng quê Hưng Yên, gắn với làng nghề truyền thống ở xã Nghĩa Trai. Đây là vùng chuyên canh hoa cúc chi nổi tiếng từ lâu đời, không chỉ có giá trị về mặt cảnh quan mà còn mang ý nghĩa kinh tế lớn đối với người dân địa phương. Cúc chi là loại hoa nhỏ, có màu vàng tươi, thường được trồng để làm dược liệu và chế biến thành trà thảo mộc. Mỗi năm, vào khoảng tháng 11 đến tháng 12, khi mùa hoa nở rộ, cả cánh đồng như được phủ kín bởi một màu vàng óng ả, tạo nên khung cảnh rực rỡ, thơ mộng và rất đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đây cũng là thời điểm cánh đồng thu hút đông đảo du khách đến tham quan, chụp ảnh và trải nghiệm không khí làng quê thanh bình. Sau khi thu hoạch, hoa được người dân lựa chọn, sấy khô và chế biến thành các sản phẩm như trà cúc chi hoặc nguyên liệu cho một số bài thuốc dân gian. Nhờ vậy, cúc chi không chỉ đem lại giá trị thẩm mỹ mà còn trở thành nguồn thu nhập quan trọng, góp phần giữ gìn và phát triển làng nghề truyền thống của địa phương.
Làng nghề Tương Bần là một làng nghề truyền thống nổi tiếng của Hưng Yên, gắn với nghề làm tương đã có từ hàng trăm năm trước. Làng nằm ở khu vực Bần Yên Nhân, từ lâu được biết đến như cái nôi của một loại đặc sản dân dã nhưng rất nổi tiếng của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Tương Bần là một loại nước chấm lên men được làm chủ yếu từ đậu tương, gạo nếp và muối, mang hương vị đậm đà, màu nâu sánh đẹp mắt và mùi thơm rất đặc trưng. Nhờ bí quyết chế biến riêng cùng kinh nghiệm được tích lũy qua nhiều thế hệ, sản phẩm tương ở đây có hương vị khác biệt, khó lẫn với các loại tương ở nơi khác.
Nghề làm tương ở Bần Yên Nhân được truyền từ đời này sang đời khác và trở thành một phần quan trọng trong đời sống kinh tế cũng như văn hóa của người dân địa phương. Để tạo ra những chum tương thơm ngon, người thợ phải trải qua nhiều công đoạn công phu như chọn đậu tương ngon, đồ xôi nếp, làm mốc, rang đỗ, phơi nguyên liệu và đem ủ trong chum sành trong thời gian thích hợp. Quá trình chế biến đòi hỏi sự cẩn thận, kinh nghiệm và cả sự kiên nhẫn, bởi chất lượng của tương phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết, tỉ lệ nguyên liệu và kĩ thuật ủ men. Chính phương pháp làm thủ công truyền thống ấy đã tạo nên hương vị riêng biệt cho Tương Bần, khiến sản phẩm không chỉ là một món ăn quen thuộc mà còn là kết tinh của kinh nghiệm dân gian lâu đời.
Tương Bần từ lâu đã nổi tiếng là đặc sản tiêu biểu của Hưng Yên. Theo nhiều câu chuyện dân gian, loại tương này từng được chọn để tiến vua, cho thấy giá trị và danh tiếng đặc biệt của sản phẩm trong quá khứ. Ngày nay, Tương Bần không chỉ được sử dụng trong bữa ăn hằng ngày như một loại nước chấm dùng với rau luộc, cà muối, đậu phụ hay thịt luộc, mà còn trở thành món quà quê mang đậm bản sắc truyền thống. Sản phẩm được tiêu thụ rộng rãi ở nhiều địa phương và là niềm tự hào của người dân Hưng Yên.
Lễ hội đền Dạ Trạch là một trong những lễ hội văn hóa – tín ngưỡng tiêu biểu và có giá trị đặc sắc của tỉnh Hưng Yên, được tổ chức hằng năm tại khu di tích đền Dạ Trạch (huyện Khoái Châu), nhằm tưởng niệm Chử Đồng Tử – một trong “Tứ bất tử” của tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Lễ hội thường diễn ra vào tháng 2 âm lịch, thu hút đông đảo người dân và du khách tham gia, trở thành một trong những sinh hoạt văn hóa quan trọng của vùng đồng bằng sông Hồng.
Lễ hội có nguồn gốc lâu đời, gắn liền với truyền thuyết Chử Đồng Tử – Tiên Dung, câu chuyện tình yêu nổi tiếng thể hiện tinh thần vượt qua rào cản giai cấp và khát vọng tự do của con người trong xã hội cổ truyền. Theo quan niệm dân gian, Chử Đồng Tử không chỉ là nhân vật huyền thoại mà còn là người có công khai phá vùng đất, truyền dạy nghề nghiệp và giúp người dân ổn định cuộc sống. Vì vậy, việc tổ chức lễ hội mang ý nghĩa tưởng niệm, tri ân và tôn vinh những giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống của dân tộc.
Phần lễ được tổ chức trang nghiêm với nhiều nghi thức truyền thống như lễ rước kiệu, dâng hương, tế lễ và đặc biệt là nghi thức rước nước từ sông Hồng về đền – biểu tượng cho sự gắn bó giữa con người với thiên nhiên và ước mong về mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no. Các đoàn rước trong trang phục truyền thống, cùng cờ hội, nhạc lễ và nghi thức cổ truyền tạo nên không khí linh thiêng, trang trọng và giàu bản sắc văn hóa.
Bên cạnh phần lễ, phần hội diễn ra sôi nổi với nhiều hoạt động văn hóa – nghệ thuật như hát chèo, múa rối nước, biểu diễn dân gian và các trò chơi truyền thống như kéo co, đấu vật, thi nấu ăn. Đây không chỉ là dịp vui chơi, giao lưu mà còn góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể của địa phương. Đồng thời, lễ hội còn giúp quảng bá hình ảnh Hưng Yên, thúc đẩy phát triển du lịch văn hóa – tâm linh và tăng cường sự gắn kết cộng đồng.
Với những giá trị lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng đặc sắc, lễ hội đền Dạ Trạch không chỉ là một sinh hoạt văn hóa truyền thống mà còn là biểu tượng của đời sống tinh thần phong phú của cư dân vùng châu thổ sông Hồng, góp phần quan trọng trong việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc và giáo dục truyền thống cho các thế hệ mai sau.