Mã tỉnh thành
04
Đơn vị hành chính
56 phường/xã
Diện tích
6700.40 km²
Dân số
543 nghìn người
Mã điện thoại
206
GRDP
25.2 nghìn tỷ
GRDP/người
44.0 triệu VNĐ
Thu ngân sách
2.5 nghìn tỷ
Trung tâm hành chính
Cao Bằng City
Vùng kinh tế
Trung du và miền núi phía Bắc
53 Xã 3 Phường
Mã điện thoại: +0084 - 0206
Vùng: Miền Bắc
Vùng kinh tế: Trung du và miền núi phía Bắc
Biển số xe: 11
Thấp nhất Cao nhất
84 người 41.157 người
xã Độc Lập phường Thục Phán
Đường bờ biển: Không
Giáp biên giới: Trung Quốc
Nhỏ nhất Lớn nhất
29.31 km² 233.25 km²
phường Nùng Trí Cao xã Quãng Lâm
Thấp nhất Cao nhất
1 người/km² 742 người/km²
xã An Thới Đông phường Thục Phán
Bí thư Thành ủy:
Phan Thăng An
Chủ tich UBND:
Lê Hải Hòa
Bí thư Tỉnh ủy:
Phan Thăng An
Chủ tich UBND:
Lê Hải Hào
Tỉnh Cao Bằng nằm ở cực Đông Bắc Việt Nam, thuộc vùng núi phía Bắc, có vị trí chiến lược về quốc phòng, kinh tế biên giới và du lịch sinh thái. Phía Bắc, tỉnh giáp tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) với tuyến biên giới dài, thuận lợi cho giao thương, cửa khẩu biên mậu và hợp tác quốc tế, đồng thời là khu vực có ý nghĩa quan trọng về an ninh quốc phòng. Phía Đông, Cao Bằng tiếp giáp tỉnh Lạng Sơn và một phần ranh giới nhỏ với Quảng Ninh, tạo điều kiện kết nối với các vùng đồng bằng Bắc Bộ; phía Tây giáp Hà Giang, nơi có địa hình núi đá cao hiểm trở; phía Nam giáp Bắc Kạn và Thái Nguyên, tạo hành lang kết nối các tỉnh trung du và đồng bằng.
Về quy mô, Cao Bằng là một tỉnh miền núi rộng lớn, có tổng diện tích khoảng 6.700 km², phần lớn địa hình là núi cao, đồi dốc và sông suối. Hệ thống núi đá vôi và thung lũng tạo nên cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, nhiều hang động, thác nước và hồ, đồng thời là môi trường sinh sống phong phú cho các loài động thực vật. Dân cư tỉnh phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở các thung lũng, thị trấn và các khu vực thuận tiện cho giao thông, trong khi các khu vực núi cao, biên giới giữ vai trò bảo tồn thiên nhiên và văn hóa dân tộc thiểu số.
Sau sáp nhập và điều chỉnh hành chính, Cao Bằng duy trì một hệ thống các huyện, thành phố và thị xã hợp lý, nhằm tối ưu hóa quản lý hành chính, phát triển kinh tế, nông lâm nghiệp, du lịch sinh thái và hạ tầng giao thông. Việc phân bố này giúp tỉnh vừa bảo vệ các vùng sinh thái quan trọng, vừa phát triển các trung tâm kinh tế, hành chính, giáo dục và y tế, tạo nền tảng cho phát triển bền vững.
Sau sáp nhập và điều chỉnh hành chính, tỉnh Cao Bằng hiện có một cơ cấu hành chính hợp lý, bao gồm thành phố Cao Bằng là trung tâm hành chính và các huyện, thị xã xung quanh. Thành phố Cao Bằng đóng vai trò là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và giáo dục của tỉnh, tập trung các sở, ngành, cơ quan hành chính cấp tỉnh và các dịch vụ thiết yếu cho người dân. Các huyện xung quanh như Trùng Khánh, Thạch An, Bảo Lâm, Bảo Lạc, Hà Quảng, Nguyên Bình, Hạ Lang, Thông Nông, Quảng Hòa, Trà Lĩnh… được tổ chức quản lý theo nguyên tắc huyện – xã – thôn/bản, đảm bảo việc điều hành, phát triển kinh tế – xã hội, giáo dục, y tế, văn hóa và an ninh trật tự tại địa phương.
Cơ cấu hành chính này vừa bảo vệ các vùng núi biên giới và sinh thái quan trọng, vừa tạo thuận lợi cho phát triển du lịch, nông lâm nghiệp và các ngành kinh tế mũi nhọn. Việc phân bổ các đơn vị hành chính cũng góp phần dễ dàng kết nối giao thông giữa các huyện, thị xã và thành phố, đồng thời hỗ trợ các chương trình phát triển vùng dân tộc thiểu số, nâng cao đời sống nhân dân và duy trì trật tự xã hội.
Tỉnh Cao Bằng có nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông – lâm nghiệp, khai thác khoáng sản, công nghiệp chế biến và thương mại biên giới, kết hợp với phát triển du lịch sinh thái và văn hóa. Về nông nghiệp, tỉnh tập trung sản xuất lúa nước, ngô, khoai, sắn và các loại cây trồng đặc sản như chè Shan tuyết, măng tre, và các loại cây dược liệu. Chăn nuôi gia súc, gia cầm cũng phát triển, đặc biệt là nuôi trâu, bò, lợn bản địa kết hợp với nuôi thủy sản tại các hồ, sông suối, tạo nguồn thực phẩm đa dạng cho người dân và thị trường trong tỉnh.
Trong lâm nghiệp, Cao Bằng có diện tích rừng lớn, chủ yếu là rừng sản xuất và rừng phòng hộ, với các loại gỗ quý, tre, nứa và các sản phẩm từ lâm sản phụ trợ. Hoạt động khai thác và chế biến gỗ, tre nứa, lâm sản không gỗ được thực hiện theo hướng bền vững, vừa phục vụ thị trường trong nước vừa xuất khẩu.
Về công nghiệp, tỉnh tập trung vào chế biến nông – lâm sản, khai thác khoáng sản và các ngành công nghiệp quy mô vừa, nhỏ. Một số sản phẩm chủ lực bao gồm chế biến chè, tinh bột sắn, gỗ, đá granite, và khoáng sản kim loại. Các khu công nghiệp, cụm công nghiệp được phân bố gần trung tâm thành phố và các thị xã lớn, tận dụng hạ tầng giao thông thuận lợi và nguồn lao động tại chỗ.
Thương mại và dịch vụ ở Cao Bằng phát triển nhờ vị trí biên giới với Trung Quốc. Các hoạt động thương mại biên mậu, xuất nhập khẩu, chợ cửa khẩu và các trung tâm logistics tăng trưởng nhanh, tạo thu nhập và việc làm cho người dân. Bên cạnh đó, dịch vụ ngân hàng, tài chính, giáo dục, y tế và thương mại trong tỉnh cũng đang mở rộng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.
Du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, với các điểm đến như thác Bản Giốc, động Ngườm Ngao, hồ Thang Hen, các bản làng dân tộc và các di tích lịch sử cách mạng. Du lịch vừa mang lại nguồn thu nhập cho người dân, vừa quảng bá văn hóa dân tộc Tày, Nùng, Dao, H’Mông và các dân tộc khác. Phát triển du lịch kết hợp với bảo tồn thiên nhiên và văn hóa đang là hướng đi dài hạn của tỉnh.
Ngoài ra, Cao Bằng còn chú trọng phát triển hạ tầng kinh tế – xã hội, bao gồm giao thông, điện, viễn thông, mạng lưới y tế, giáo dục, từ trung tâm tỉnh đến các huyện miền núi và biên giới, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, lưu thông hàng hóa và dịch vụ, nâng cao đời sống người dân. Các chính sách hỗ trợ kinh tế vùng sâu, vùng xa và các cộng đồng dân tộc thiểu số cũng được triển khai nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
Tổng thể, kinh tế Cao Bằng sau sáp nhập thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa nông – lâm nghiệp truyền thống, khai thác khoáng sản, công nghiệp chế biến, thương mại biên giới và du lịch sinh thái, đồng thời phát triển bền vững dựa trên bảo vệ môi trường, văn hóa và cải thiện đời sống nhân dân.
Hệ thống giao thông Cao Bằng bao gồm các quốc lộ chính, trong đó quốc lộ 3 và quốc lộ 4 kết nối thành phố Cao Bằng với các huyện, thị xã và các cửa khẩu biên giới. Các tuyến đường huyện, đường xã và cầu treo kết nối các bản làng, khu du lịch, đồng thời tạo thuận lợi cho vận chuyển hàng hóa và phát triển du lịch. Hạ tầng viễn thông, mạng internet, điện lưới quốc gia được phủ rộng, kể cả các vùng núi sâu và biên giới, giúp người dân, doanh nghiệp và cơ quan hành chính tiếp cận dịch vụ hiện đại, phục vụ phát triển kinh tế, quản lý hành chính và nâng cao chất lượng sống. Các dự án nâng cấp giao thông, xây dựng cầu, mở rộng đường và cải thiện hạ tầng vận tải đang được tỉnh triển khai nhằm tăng khả năng kết nối, thúc đẩy du lịch và thương mại biên giới.
Hiện tại, tỉnh Cao Bằng có lãnh đạo chủ chốt gồm Bí thư Tỉnh ủy và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, là hai vị trí quan trọng nhất trong hệ thống chính quyền địa phương. Bí thư Tỉnh ủy Cao Bằng là ông Phan Thăng An, người đứng đầu Đảng bộ tỉnh, chịu trách nhiệm định hướng chính trị, lãnh đạo phát triển kinh tế – xã hội, giám sát hoạt động của chính quyền và các cơ quan cấp tỉnh, đồng thời đảm bảo các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được triển khai đúng đắn. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh là ông Lê Hải Hòa, trực tiếp điều hành các hoạt động hành chính, tổ chức thực hiện các dự án phát triển kinh tế – xã hội, quản lý nguồn lực của tỉnh, đồng thời phối hợp với các sở, ngành và huyện, thị xã để nâng cao hiệu quả quản lý và phục vụ đời sống người dân.
Bí thư Tỉnh ủy:
Phan Thăng An
Chủ tich UBND:
Lê Hải Hào
Toàn tỉnh sử dụng biển số xe bắt đầu bằng 11, áp dụng cho tất cả các loại phương tiện cơ giới. Mã vùng điện thoại cố định 0206 được dùng cho các cơ quan hành chính, sở ngành và người dân, tạo thuận tiện trong liên lạc, giao dịch và sinh hoạt hằng ngày.
Cao Bằng có tuyến biên giới dài giáp Trung Quốc phía Bắc, là khu vực quản lý đặc biệt về an ninh, thương mại biên mậu và phát triển du lịch. Các huyện giáp biên như Trùng Khánh, Hạ Lang, Trà Lĩnh và Quảng Hòa được quản lý chặt chẽ, vừa phát triển kinh tế biên giới, vừa bảo vệ an ninh quốc phòng và duy trì văn hóa dân tộc. Phía Đông, Tây và Nam tiếp giáp các tỉnh nội địa gồm Lạng Sơn, Hà Giang, Bắc Kạn và Thái Nguyên, giúp phát triển nông – lâm nghiệp, giao thông, văn hóa, đồng thời bảo tồn thiên nhiên và phát triển bền vững.
Thác Bản Giốc là điểm du lịch nổi tiếng nhất của Cao Bằng, nổi bật nhờ cảnh quan hùng vĩ nơi dòng sông Quây Sơn chảy qua biên giới Việt – Trung. Dòng thác đổ từ vách núi cao xuống tạo nên bức tranh thiên nhiên vừa hùng vĩ vừa thơ mộng, quanh năm mát lạnh. Du khách đến đây không chỉ được thưởng ngoạn cảnh quan, mà còn có thể trải nghiệm thuyền trên dòng sông, chụp ảnh và tham quan các khu vực xung quanh. Thác Bản Giốc còn có ý nghĩa về mặt kinh tế khi thúc đẩy du lịch sinh thái, tạo thu nhập cho cộng đồng địa phương và quảng bá văn hóa vùng biên.
Động Ngườm Ngao là hang động tự nhiên lớn, chứa hàng ngàn khối thạch nhũ với hình dáng độc đáo và muôn màu, tạo nên trải nghiệm khám phá thiên nhiên kỳ ảo cho du khách. Việc đi sâu vào hang động giúp mọi người chiêm ngưỡng vẻ đẹp hoang sơ của thiên nhiên, đồng thời tìm hiểu về địa chất và lịch sử hình thành các khối thạch nhũ hàng triệu năm.
Hồ Thang Hen với mặt nước trong xanh, bao quanh bởi núi rừng và thung lũng, là nơi lý tưởng cho nghỉ dưỡng, câu cá và trải nghiệm sinh thái. Hồ không chỉ mang giá trị về du lịch mà còn bảo tồn nhiều loài động, thực vật quý hiếm, góp phần phát triển du lịch sinh thái bền vững.
Bản làng dân tộc của các dân tộc Tày, Nùng, Dao, H’Mông giữ gìn lối sống truyền thống với nhà sàn, lễ hội, trang phục, nghề thủ công và ẩm thực đặc sắc. Du khách khi đến thăm các bản làng được trải nghiệm sinh hoạt, lễ hội, thưởng thức ẩm thực và tìm hiểu nghề thủ công truyền thống, từ đó hiểu thêm về văn hóa đa dạng của các dân tộc thiểu số và đồng thời đóng góp vào kinh tế cộng đồng.
Các di tích lịch sử cách mạng ở Cao Bằng là nơi du khách tìm hiểu về lịch sử kháng chiến, những anh hùng dân tộc và các sự kiện quan trọng. Việc kết hợp tham quan di tích với trải nghiệm văn hóa và thiên nhiên mang đến loại hình du lịch giáo dục – giải trí – sinh thái, vừa giúp bảo tồn văn hóa, vừa tạo giá trị kinh tế cho địa phương.