Mã tỉnh thành 46
Đơn vị hành chính
40 phường/xã
Diện tích
4947.10 km²
Dân số
1.16 triệu người
Mã điện thoại
2234
GRDP
81 nghìn tỷ
GRDP/người
56.5 triệu VNĐ
Thu ngân sách
12.8 nghìn tỷ
Trung tâm hành chính
Huế
Vùng kinh tế
Bắc Trung Bộ
19 Xã 21 Phường 0 Đặc khu
Mã điện thoại: +0084 - 0230234
Vùng: Miền Trung
Vùng kinh tế: Bắc Trung Bộ
Biển số xe: 75
Thấp nhất Cao nhất
376 người 130.247người
xã A lưới 5 phường Phú xuân
Đường bờ biển: Có bờ biển
Giáp biên giới: Lào
Nhỏ nhất Lớn nhất
7.57 km² 592.48 km²
phường Hòa Bình phường Hòa Lợi
Thấp nhất Cao nhất
1 người/km² 13.068 người/km²
xã A lưới 5 phường Thuận
Bí thư Tỉnh ủy:
Nguyễn Đình Trung
Chủ tich UBND:
Nguyễn Khắc Toàn
Bí thư Tỉnh ủy:
Nguyễn Đình Trung
Chủ tich UBND:
Nguyễn Khắc Toàn
Huế là đô thị quan trọng ở khu vực miền Trung Việt Nam, đồng thời là trung tâm văn hóa, du lịch, y tế và giáo dục lớn của cả nước. Thành phố thuộc vùng Bắc Trung Bộ và có vai trò kết nối giữa hai miền Bắc – Nam về cả kinh tế lẫn giao thông.
Sau quá trình điều chỉnh địa giới hành chính, thành phố có diện tích khoảng hơn 4.900 km² (tính theo toàn địa bàn trực thuộc), với dân số khoảng 1,2–1,3 triệu người và lực lượng lao động chiếm tỷ lệ đáng kể trong cơ cấu dân số. Mặc dù quy mô dân số nhỏ hơn nhiều so với các đô thị đặc biệt như Thành phố Hồ Chí Minh, Huế vẫn giữ vai trò là một trong những trung tâm đô thị lớn của miền Trung.
Thành phố nằm bên bờ Sông Hương thơ mộng, với hệ thống sông ngòi và đầm phá phong phú, đặc biệt là Đầm phá Tam Giang – Cầu Hai. Vị trí địa lý này giúp Huế có điều kiện phát triển đa dạng các loại hình kinh tế như du lịch sinh thái, nuôi trồng thủy sản và giao thương đường thủy. Đồng thời, thành phố cũng có cửa ngõ ra biển qua Biển Thuận An, góp phần thúc đẩy giao lưu kinh tế với khu vực và quốc tế.
Nguồn: https://nhandan.vn/
Nguồn: https://nhandan.vn/
2. CƠ CẤU HÀNH CHÍNH
Huế hiện nay được tổ chức thành các đơn vị hành chính cấp cơ sở gồm phường và xã, phân bố trên cả khu vực đô thị trung tâm và vùng ven, đầm phá, ven biển. Sau quá trình sắp xếp đơn vị hành chính những năm gần đây, thành phố có hàng chục đơn vị hành chính cấp xã, trong đó khu vực nội đô tập trung các phường với mật độ dân cư cao, còn khu vực ngoại thành gồm các xã có diện tích lớn hơn, gắn với phát triển nông nghiệp, du lịch sinh thái và kinh tế biển.
Về không gian đô thị và các cực phát triển, khu vực trung tâm thành phố (bao quanh Kinh thành Huế) vẫn là hạt nhân lịch sử – văn hóa, đồng thời phát triển mạnh các hoạt động du lịch, dịch vụ và thương mại. Khu vực này gắn với quần thể di sản của Quần thể di tích Cố đô Huế, tạo nền tảng đặc thù cho kinh tế du lịch và công nghiệp văn hóa.
Ở phía Nam thành phố, các khu đô thị mới và hiện đại đang dần hình thành, mở rộng không gian đô thị qua các trục giao thông lớn, kết nối với các khu vực lân cận. Trong khi đó, khu vực ven biển và đầm phá như Thuận An và Đầm phá Tam Giang – Cầu Hai được định hướng phát triển theo hướng du lịch sinh thái, dịch vụ nghỉ dưỡng và kinh tế biển.
Ngoài ra, thành phố cũng chú trọng phát triển các khu chức năng như khu y tế, giáo dục và công nghệ, từng bước hình thành các cực tăng trưởng mới bên cạnh khu vực trung tâm truyền thống. Nhìn chung, cấu trúc không gian đô thị của Huế đang chuyển dịch theo hướng đa trung tâm, kết hợp giữa bảo tồn di sản và mở rộng phát triển hiện đại, tạo nên sự cân bằng giữa giá trị lịch sử và động lực kinh tế mới.
Nguồn: UBND TPHCM, tư liệu tuổi trẻ.
Huế hiện là một trong những trung tâm kinh tế quan trọng của khu vực miền Trung, với định hướng phát triển dựa trên lợi thế về di sản văn hóa, du lịch, y tế chuyên sâu và giáo dục – đào tạo. Quy mô nền kinh tế của thành phố tuy nhỏ hơn nhiều so với các đô thị đặc biệt như Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng vẫn giữ vai trò động lực tăng trưởng của vùng Bắc Trung Bộ.
Trong những năm gần đây, GRDP của thành phố duy trì tốc độ tăng trưởng khá ổn định, thường dao động ở mức 7–9%/năm (tùy theo từng giai đoạn và cách tính). GRDP bình quân đầu người ngày càng được cải thiện, phản ánh sự chuyển biến tích cực trong chất lượng tăng trưởng và đời sống người dân. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng qua các năm, trong đó đầu tư vào hạ tầng đô thị, du lịch và dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn; thu hút FDI từng bước cải thiện, đặc biệt trong các lĩnh vực du lịch nghỉ dưỡng, y tế và công nghiệp nhẹ.
Cơ cấu kinh tế của Huế chuyển dịch theo hướng dịch vụ chiếm tỷ trọng chủ đạo, phù hợp với đặc thù của một đô thị di sản. Du lịch – dịch vụ gắn với Quần thể di tích Cố đô Huế và các giá trị văn hóa truyền thống đóng vai trò mũi nhọn. Bên cạnh đó, lĩnh vực y tế chất lượng cao (với trung tâm là Bệnh viện Trung ương Huế) và giáo dục – đào tạo (tiêu biểu là Đại học Huế) cũng là các trụ cột quan trọng của nền kinh tế địa phương.
Khu vực công nghiệp – xây dựng phát triển theo hướng chọn lọc, ưu tiên các ngành công nghiệp sạch, công nghệ cao và chế biến. Trong khi đó, nông nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng đang được tái cơ cấu theo hướng sinh thái, hữu cơ và gắn với du lịch trải nghiệm, đặc biệt tại các vùng đầm phá như Đầm phá Tam Giang – Cầu Hai.
Về định hướng trung và dài hạn, Huế tập trung phát triển kinh tế xanh, kinh tế di sản và kinh tế số; đẩy mạnh các ngành công nghiệp văn hóa, du lịch thông minh và dịch vụ chất lượng cao. Thành phố hướng tới trở thành trung tâm lớn của cả nước về văn hóa, du lịch, y tế chuyên sâu và giáo dục, đồng thời từng bước tham gia sâu hơn vào mạng lưới đô thị và kinh tế khu vực miền Trung – Tây Nguyên.
Nguồn: https://thongke.cesti.gov.vn/phan-tich-thong-ke/ket-qua-thong-ke/1485-so-lieu-thong-ke-ve-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-tphcm-2025
Nguồn: https://thongke.cesti.gov.vn/phan-tich-thong-ke/ket-qua-thong-ke/1485-so-lieu-thong-ke-ve-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-tphcm-2025
Nguồn: https://thongke.cesti.gov.vn/phan-tich-thong-ke/ket-qua-thong-ke/1485-so-lieu-thong-ke-ve-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-tphcm-2025
Nguồn: https://thongke.cesti.gov.vn/phan-tich-thong-ke/ket-qua-thong-ke/1485-so-lieu-thong-ke-ve-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-tphcm-2025
Huế là một trong những đầu mối giao thông quan trọng của khu vực miền Trung, giữ vai trò kết nối trục Bắc – Nam và hành lang kinh tế Đông – Tây. Hệ thống hạ tầng của thành phố đang từng bước được đầu tư đồng bộ nhằm phục vụ phát triển du lịch, dịch vụ và liên kết vùng.
Về đường bộ, Huế nằm trên các tuyến giao thông huyết mạch như Quốc lộ 1A và tuyến đường sắt Bắc – Nam, giúp kết nối thuận lợi với các trung tâm lớn như Đà Nẵng và Hà Nội. Ngoài ra, các tuyến đường tránh, đường ven biển và các dự án cao tốc trong khu vực miền Trung đang được triển khai, góp phần tăng cường liên kết vùng và giảm tải cho khu vực đô thị trung tâm.
Về hàng không, Cảng hàng không quốc tế Phú Bài là cửa ngõ hàng không chính của thành phố. Trong những năm gần đây, sân bay đã được mở rộng và nâng cấp, nâng cao công suất phục vụ hàng triệu lượt hành khách mỗi năm, đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch và giao thương ngày càng tăng của địa phương.
Về cảng biển, Huế có lợi thế tiếp cận biển thông qua khu vực Chân Mây, nơi có Cảng Chân Mây – một trong những cảng nước sâu quan trọng của miền Trung. Cảng này đóng vai trò tiếp nhận hàng hóa, tàu du lịch quốc tế và kết nối với hành lang kinh tế Đông – Tây, góp phần thúc đẩy thương mại, logistics và du lịch tàu biển.
Bên cạnh đó, hệ thống hạ tầng đô thị của Huế đang được đầu tư theo hướng hiện đại và bền vững, bao gồm phát triển giao thông công cộng, hạ tầng số và các khu đô thị mới. Thành phố cũng chú trọng phát triển hạ tầng thích ứng với biến đổi khí hậu, đặc biệt tại các khu vực ven sông và đầm phá như Đầm phá Tam Giang – Cầu Hai.
Nhìn chung, với sự kết hợp giữa đường bộ, đường sắt, hàng không và cảng biển, Huế đang từng bước hoàn thiện hệ thống giao thông đa phương thức, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập khu vực.
Cảng Hiệp Phước
Sân bay Tân Sơn Nhất
Cảng Cát lái
Cao tốc Long Thành-Dầu Giây
Hiện nay, tại Huế, bộ máy lãnh đạo chủ chốt của thành phố bao gồm Bí thư Thành ủy và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố – những vị trí giữ vai trò định hướng chiến lược và điều hành phát triển kinh tế – xã hội địa phương.
Cụ thể, Bí thư Thành ủy Huế là Phan Ngọc Thọ, người chịu trách nhiệm lãnh đạo toàn diện các mặt công tác của Đảng bộ thành phố. Trong khi đó, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố là Nguyễn Văn Phương, người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước, trực tiếp điều hành các hoạt động phát triển kinh tế – xã hội, quản lý đô thị và triển khai chính sách tại địa phương.
Thông tin về lãnh đạo thành phố được công bố trong các văn kiện của Đảng bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thành phố trong nhiệm kỳ hiện hành.
Bí thư Tỉnh ủy:
Nguyễn Đình Trung
Chủ tich UBND:
Nguyễn Khắc Toàn
Tại Huế, hệ thống biển số xe cơ giới được quản lý thống nhất theo quy định chung của Việt Nam. Theo đó, mã biển số đặc trưng của địa phương là 75, áp dụng cho các phương tiện đăng ký trên địa bàn thành phố (trước đây thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế).
Về mã vùng điện thoại cố định, Huế sử dụng mã vùng 0234, đây là mã được duy trì ổn định sau các đợt điều chỉnh mã vùng viễn thông trên toàn quốc. Mã này áp dụng cho toàn bộ khu vực thành phố và các địa bàn lân cận.
Khác với trường hợp của Thành phố Hồ Chí Minh – nơi có sự thay đổi do mở rộng địa giới và hợp nhất nhiều đơn vị hành chính – Huế hiện chưa có sự hợp nhất tương tự, vì vậy hệ thống biển số xe và mã vùng viễn thông vẫn giữ tính thống nhất, không phân tán theo nhiều khu vực khác nhau.
Về địa giới hành chính, Huế có phạm vi lãnh thổ được kế thừa và phát triển trên cơ sở toàn bộ địa bàn Thừa Thiên Huế trước đây, do đó ranh giới hành chính của thành phố tương đối ổn định và không có sự thay đổi mang tính hợp nhất quy mô lớn như Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo đó, thành phố Huế hiện nay:
Phía Bắc giáp Quảng Trị
Phía Nam giáp Đà Nẵng
Phía Tây giáp Lào
Phía Đông giáp Biển Đông
Với vị trí này, Huế nằm trên trục giao thông xuyên Việt và đồng thời là cửa ngõ ra biển của khu vực hành lang kinh tế Đông – Tây, kết nối các nước nội lục như Lào và vùng Đông Bắc Thái Lan với biển.
Không gian phát triển của thành phố trải dài từ khu vực đô thị trung tâm ven Sông Hương, đến vùng đồi núi phía Tây và hệ đầm phá – ven biển phía Đông như Đầm phá Tam Giang – Cầu Hai. Nhờ đó, Huế có điều kiện phát triển đa dạng các loại hình kinh tế, từ đô thị – dịch vụ, công nghiệp nhẹ đến kinh tế biển và sinh thái.
Nhìn chung, khác với các đô thị có biến động lớn về địa giới, biên giới hành chính của Huế mang tính ổn định, tạo thuận lợi cho việc quy hoạch phát triển bền vững gắn với bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và di sản văn hóa.
Kinh thành Huế là trung tâm quyền lực của triều Nguyễn (1802–1945) và là công trình tiêu biểu nhất trong Quần thể di tích Cố đô Huế. Công trình được xây dựng theo mô hình kinh đô phương Đông kết hợp nguyên tắc phong thủy, với ba vòng thành chính: Kinh thành, Hoàng thành và Tử Cấm Thành.
Bên trong có nhiều công trình quan trọng như Ngọ Môn, điện Thái Hòa, Thế Miếu… thể hiện quyền uy của triều đình phong kiến Việt Nam. Không chỉ có giá trị lịch sử, Kinh thành Huế còn là biểu tượng văn hóa – kiến trúc độc đáo, phản ánh trình độ quy hoạch đô thị, nghệ thuật xây dựng và tư duy chính trị của thời Nguyễn. Ngày nay, đây là điểm tham quan hàng đầu, thu hút hàng triệu du khách mỗi năm.
Chùa Thiên Mụ là một trong những ngôi chùa cổ kính và linh thiêng nhất Việt Nam, được xây dựng từ năm 1601 dưới thời chúa Nguyễn Hoàng. Chùa nằm trên đồi Hà Khê, bên bờ Sông Hương, tạo nên khung cảnh thơ mộng đặc trưng của Huế.
Biểu tượng nổi bật của chùa là tháp Phước Duyên cao 7 tầng, trở thành hình ảnh đại diện cho du lịch Huế. Chùa không chỉ là trung tâm Phật giáo quan trọng mà còn gắn với nhiều sự kiện lịch sử. Đây là điểm đến vừa mang giá trị tâm linh, vừa có cảnh quan đẹp, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước.
Lăng Minh Mạng được đánh giá là công trình lăng tẩm có bố cục hoàn chỉnh và hài hòa nhất trong hệ thống lăng vua Nguyễn. Lăng được xây dựng từ năm 1840 và hoàn thành dưới triều vua Thiệu Trị, tọa lạc trong không gian thiên nhiên rộng lớn với núi non, hồ nước và rừng cây bao quanh.
Kiến trúc lăng mang tính đối xứng cao, với trục thần đạo kéo dài qua nhiều lớp sân, hồ và cung điện. Công trình thể hiện rõ tư tưởng Nho giáo và quan niệm về vũ trụ, quyền lực hoàng gia. Ngoài giá trị kiến trúc, nơi đây còn là không gian sinh thái yên tĩnh, rất phù hợp cho du lịch khám phá và trải nghiệm văn hóa.
Sông Hương không chỉ là một con sông mà còn là biểu tượng văn hóa của Huế. Dòng sông chảy qua trung tâm thành phố, gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của cố đô. Tên gọi “Hương” xuất phát từ truyền thuyết về hương thơm của thảo mộc từ thượng nguồn trôi về.
Hai bên bờ sông là các công trình nổi tiếng như Kinh thành Huế, chùa Thiên Mụ, cầu Trường Tiền… tạo nên một không gian văn hóa đặc sắc. Du khách có thể trải nghiệm du thuyền trên sông, nghe ca Huế – một loại hình nghệ thuật truyền thống đặc trưng. Sông Hương vì thế không chỉ có giá trị cảnh quan mà còn là “linh hồn” của văn hóa Huế.
Biển Thuận An nằm cách trung tâm Huế khoảng 15 km, là một trong những bãi biển đẹp và dễ tiếp cận nhất của khu vực. Đây là nơi giao thoa giữa hệ thống đầm phá và biển Đông, tạo nên cảnh quan đa dạng và giàu tài nguyên sinh thái.
Biển có bãi cát dài, nước trong và sóng vừa phải, thích hợp cho nghỉ dưỡng, tắm biển và thưởng thức hải sản. Ngoài ra, khu vực này còn có giá trị lịch sử khi từng là cửa biển quan trọng trong giao thương thời Nguyễn. Hiện nay, Thuận An đang được định hướng phát triển thành khu du lịch biển kết hợp sinh thái và văn hóa, góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch của Huế.
Festival Huế là sự kiện văn hóa nghệ thuật mang tầm quốc tế được tổ chức định kỳ 2 năm một lần tại cố đô Huế với mục tiêu cốt lõi là tôn vinh, bảo tồn và phát huy những giá trị di sản văn hóa đặc sắc của dân tộc Việt Nam cùng những tinh hoa nghệ thuật tiêu biểu của các nền văn minh trên thế giới. Ra đời từ năm 2000 dựa trên sự kế thừa từ các tuần lễ văn hóa Việt - Pháp trước đó, Festival Huế đã nhanh chóng khẳng định vị thế là một trong những lễ hội lớn nhất và uy tín nhất cả nước, biến thành phố di sản thành một sân khấu khổng lồ đầy màu sắc và âm hưởng. Điểm nhấn độc đáo của lễ hội nằm ở sự giao thoa tuyệt vời giữa nét thâm trầm, cổ kính của hệ thống cung điện, đền đài triều Nguyễn với sự sôi động, hiện đại của các đoàn nghệ thuật đương đại đến từ năm châu lục như Pháp, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và các quốc gia ASEAN. Du khách tham gia sẽ được đắm mình trong không gian của những chương trình mang đậm dấu ấn lịch sử như Đêm Hoàng Cung tái hiện sinh hoạt chốn cung đình, Lễ tế Nam Giao thể hiện triết lý nhân văn giữa trời đất và con người, hay Lễ hội Áo dài tôn vinh vẻ đẹp quốc phục Việt Nam bên dòng sông Hương thơ mộng. Đặc biệt, từ năm 2022, Festival Huế đã có bước chuyển mình mạnh mẽ khi chuyển sang mô hình Festival Bốn Mùa với các chuỗi sự kiện trải dài suốt 365 ngày, bao gồm Lễ hội Mùa Xuân mang đậm bản sắc Tết Huế và các lễ hội dân gian, Lễ hội Mùa Hạ với tuần lễ cao điểm hội tụ tinh hoa nghệ thuật biểu diễn quốc tế, Lễ hội Mùa Thu gắn liền với các hoạt động Trung Thu và lễ hội đèn lồng truyền thống, cuối cùng là Lễ hội Mùa Đông với các chương trình âm nhạc hiện đại và sự kiện đếm ngược chào năm mới. Việc duy trì và phát triển Festival Huế không chỉ thúc đẩy ngành du lịch và kinh tế địa phương phát triển mạnh mẽ mà còn góp phần xây dựng Thừa Thiên Huế trở thành trung tâm văn hóa, du lịch đặc sắc của khu vực, đồng thời là nhịp cầu hữu nghị giúp bạn bè quốc tế hiểu sâu sắc hơn về tâm hồn và bản sắc con người Việt Nam luôn trân trọng quá khứ nhưng cũng đầy khát vọng hướng tới tương lai.
Ẩm thực Huế là một hệ thống văn hóa ăn uống tinh tế, được hình thành và phát triển qua hàng thế kỷ dựa trên sự kết hợp độc đáo giữa chiều sâu của ẩm thực cung đình triều Nguyễn với nét dân dã, phong phú của đời sống người dân vùng đất cố đô. Điểm đặc trưng lớn nhất giúp ẩm thực Huế khác biệt hoàn toàn với các vùng miền khác chính là sự coi trọng "khẩu vị" và "nhãn vị", nghĩa là món ăn không chỉ phải ngon mà còn phải được trình bày đẹp mắt, tỉ mỉ như một tác phẩm nghệ thuật. Về phân loại, ẩm thực Huế thường được chia làm ba dòng chính: Ẩm thực cung đình vốn dành cho vua chúa với quy tắc chế biến nghiêm ngặt, trình bày phượng múa rồng bay và sử dụng những nguyên liệu quý hiếm; Ẩm thực dân gian với những món ăn bình dị nhưng đậm đà, sử dụng nguyên liệu địa phương sẵn có; và Ẩm thực chay vốn cực kỳ phát triển do ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo tại vùng đất này. Người Huế rất tinh tế trong việc sử dụng gia vị, đặc biệt là vị cay của ớt và vị đậm đà của các loại mắm như mắm ruốc, mắm tôm chua, tạo nên những tầng hương vị nồng nàn nhưng vẫn thanh tao. Những món ăn biểu tượng như Bún bò Huế, Cơm hến, Bánh bèo - nạm - lọc, cùng hàng chục loại chè cung đình hay các món nem chả đã tạo nên một "bản đồ ẩm thực" vô cùng quyến rũ, biến mỗi bữa ăn trở thành một trải nghiệm văn hóa thú vị. Ngày nay, ẩm thực Huế không chỉ là niềm tự hào của người dân địa phương mà còn trở thành di sản văn hóa phi vật thể quý báu, góp phần quan trọng vào việc khẳng định vị thế "Kinh đô ẩm thực" của Việt Nam trên bản đồ du lịch thế giới.
Không giống bún bò ở bất cứ đâu, nước dùng chuẩn Huế phải có mùi thơm thoang thoảng của mắm ruốc và sả, vị ngọt đậm đà từ xương ống bò. Một tô bún đầy đủ thường có thịt bắp bò, giò heo, huyết mềm và đặc biệt là viên chả cua màu cam bắt mắt. Sợi bún Huế thường to và dai hơn sợi bún miền Bắc hay miền Nam.
Đây là món ăn hội tụ đủ 5 vị (ngọt, mặn, chua, cay, đắng). Người Huế dùng cơm nguội trộn với hến xào, ăn kèm với rất nhiều loại rau sống như thân chuối, rau thơm, cùng đậu phộng rang, da heo chiên giòn và mắm ruốc. Ăn cơm hến là phải có thêm chén nước luộc hến nóng hổi, nồng nàn vị gừng và ớt.
Bánh bèo: Những chén nhỏ xinh có lớp bột trắng mịn, bên trên rắc tôm chấy, mỡ hành và da heo chiên.
Bánh nậm: Làm từ bột gạo với nhân tôm thịt băm nhỏ, gói trong lá dong xanh mướt và ép mỏng, khi ăn có vị thanh tao, tan ngay trong miệng.
Bánh lọc: Có lớp vỏ trong suốt làm từ bột năng, lộ rõ con tôm và miếng mỡ heo bên trong, ăn vào thấy dai sần sật và rất đậm đà.