Đơn vị hành chính
126 phường/xã
Diện tích
3359.80 km²
Dân số
8.45 triệu người
Mã điện thoại
24
GRDP
1425.5 nghìn tỷ
GRDP/người
162.0 triệu VNĐ
Thu ngân sách
511.3 nghìn tỷ
Trung tâm hành chính
Hoàn Kiếm - Hà Nội
Vùng kinh tế
Đồng bằng sông Hồng
75 Xã 51 Phường
Mã điện thoại: +0084 - 024
Vùng: Miền Bắc
Vùng kinh tế: Đồng bằng sông Hồng
Biển số xe: 29; 30; 31; 32; 33; 40
Thấp nhất Cao nhất
6.375 người 185.205 người
xã Ứng Hòa phường Hà Đông
Đường bờ biển: Không
Giáp biên giới: Không
Nhỏ nhất Lớn nhất
1.68 km² 81.27 km²
phường Cửa Nam xã Ba Vì
Thấp nhất Cao nhất
94 người/km² 55.131 người/km²
xã Ứng Hòa phường Hoàn Kiếm
Bí thư Thành ủy:
Nguyễn Duy Ngọc
Chủ tich UBND:
Vũ Đại Thắng
Bí thư Thành ủy:
Nguyễn Duy Ngọc
Chủ tich UBND:
Vũ Đại Thắng
Hà Nội là Thủ đô của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đồng thời là trung tâm lớn về chính trị, hành chính, văn hóa, khoa học, giáo dục và giao lưu quốc tế của cả nước. Về vị trí địa lí, Hà Nội nằm ở trung tâm miền Bắc, thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng, trong khoảng từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc và từ 105°44' đến 106°02' kinh độ Đông. Với vị trí này, Hà Nội giữ vai trò là đầu mối kết nối giữa vùng trung du và miền núi phía Bắc với vùng đồng bằng Bắc Bộ, đồng thời là hạt nhân liên kết giữa nội địa với khu vực duyên hải phía đông. Chính vị trí trung tâm ấy đã tạo cho Hà Nội điều kiện rất thuận lợi để phát triển tổng hợp nhiều lĩnh vực và giữ vai trò dẫn dắt trong mạng lưới đô thị của miền Bắc cũng như cả nước.
Về ý nghĩa vị trí địa lí, Hà Nội là đầu mối giao thông lớn của miền Bắc với hệ thống đường bộ, đường sắt, đường hàng không và đường thủy phát triển. Thành phố vừa là nơi hội tụ, vừa là nơi lan tỏa các luồng giao lưu kinh tế, văn hóa và dân cư trong toàn vùng. Từ Hà Nội, có thể dễ dàng kết nối với các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc, các tỉnh đồng bằng sông Hồng và các cảng biển ở duyên hải Bắc Bộ. Chính vì vậy, Hà Nội có vai trò đặc biệt trong việc điều phối phát triển vùng, thu hút đầu tư, thúc đẩy thương mại và tổ chức mạng lưới dịch vụ chất lượng cao cho khu vực phía Bắc. Đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng giúp Hà Nội luôn giữ vị thế trung tâm của cả nước.
Về tổ chức hành chính, hiện nay Hà Nội vận hành theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp từ ngày 1/7/2025, gồm cấp thành phố và cấp xã, phường; cấp huyện đã kết thúc hoạt động. Sau sắp xếp, Hà Nội có 126 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 51 phường và 75 xã. Vì vậy, nếu viết theo tình hình hiện nay thì không còn diễn đạt Hà Nội là tổ chức theo ba cấp “thành phố – quận/huyện/thị xã – xã/phường/thị trấn” như trước nữa. Sự thay đổi này nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu quả quản lí và tăng tính trực tiếp trong phục vụ người dân, doanh nghiệp trên địa bàn Thủ đô.
Về kinh tế, Hà Nội là một trong những trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước và giữ vai trò đầu tàu tăng trưởng của vùng Đồng bằng sông Hồng. Nền kinh tế của thành phố phát triển theo hướng hiện đại, trong đó dịch vụ giữ vai trò chủ đạo, tiếp đến là công nghiệp – xây dựng, còn nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỉ trọng nhỏ hơn. Theo báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2025, cơ cấu GRDP của Hà Nội gồm: nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 1,86%, công nghiệp và xây dựng chiếm 22,25%, dịch vụ chiếm 66,44%, còn thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,45%. Cơ cấu này cho thấy rõ Hà Nội là nền kinh tế đô thị lớn, trong đó khu vực dịch vụ có vai trò nổi bật nhất.
Sự phát triển kinh tế của Hà Nội gắn với việc thành phố tập trung nhiều cơ quan trung ương, tổ chức tài chính, ngân hàng, doanh nghiệp lớn, trường đại học, viện nghiên cứu và trung tâm thương mại quan trọng. Nhờ đó, các ngành như tài chính, thương mại, bất động sản, giáo dục, y tế, du lịch, vận tải và công nghệ thông tin đều phát triển mạnh. Bên cạnh đó, các khu công nghiệp, khu công nghệ cao và các không gian đổi mới sáng tạo tiếp tục tạo động lực cho công nghiệp chế biến, chế tạo và ứng dụng khoa học công nghệ. Trong khi đó, khu vực nông nghiệp ở ngoại thành vẫn giữ vai trò cung cấp thực phẩm cho đô thị, đồng thời chuyển dần theo hướng nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái và gắn với phát triển các làng nghề truyền thống. Nhờ vị trí trung tâm cùng cơ cấu kinh tế đa dạng, Hà Nội luôn có đóng góp rất lớn vào quy mô kinh tế quốc gia và giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển vùng.
Nguồn: https://ttpvhcc.hanoi.gov.vn/infographics/kinh-te-xa-hoi-ha-noi-6-thang-dau-nam-2025-phat-trien-tich-cuc-tren-nhieu-linh-vuc-2850250702212444381.htm
Nguồn: https://infographics.vn/6-thang-nam-2025-grdp-cua-ha-noi-uoc-tang-763/216258.vna
Nguồn: https://ttpvhcc.hanoi.gov.vn/infographics/kinh-te-xa-hoi-ha-noi-6-thang-dau-nam-2025-phat-trien-tich-cuc-tren-nhieu-linh-vuc-2850250702212444381.htm
Hệ thống giao thông và hạ tầng của Hà Nội phát triển khá đồng bộ, hiện đại và giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với khu vực miền Bắc cũng như cả nước. Với vị thế là Thủ đô, Hà Nội là đầu mối giao thông lớn, nơi tập trung và tỏa đi nhiều tuyến vận tải quan trọng bằng đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không. Nhờ đó, thành phố có khả năng kết nối thuận lợi với các tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng, trung du và miền núi phía Bắc, cũng như với các trung tâm kinh tế lớn khác của Việt Nam. Đây là một lợi thế quan trọng giúp Hà Nội phát triển kinh tế, mở rộng giao lưu và giữ vai trò trung tâm liên kết vùng.
Về đường bộ, Hà Nội có mạng lưới giao thông rất phát triển với nhiều tuyến quốc lộ, cao tốc, đường hướng tâm và các tuyến vành đai quan trọng. Trong đó, các tuyến đường vành đai như Vành đai 3 có ý nghĩa lớn trong việc giảm bớt áp lực cho khu vực nội đô, đồng thời tăng cường kết nối giữa Hà Nội với các tỉnh lân cận. Hệ thống đường bộ không chỉ phục vụ nhu cầu đi lại hằng ngày của người dân mà còn góp phần thúc đẩy vận chuyển hàng hóa, mở rộng giao thương và hỗ trợ phát triển các khu công nghiệp, khu đô thị mới.
Về hàng không, Hà Nội có sân bay quốc tế Nội Bài, là một trong những cảng hàng không lớn và quan trọng nhất của Việt Nam. Đây là cửa ngõ hàng không lớn của miền Bắc, phục vụ cả các chuyến bay nội địa lẫn quốc tế. Sân bay Nội Bài có vai trò rất lớn trong việc kết nối Hà Nội với các tỉnh, thành trong nước và với nhiều quốc gia trên thế giới, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển thương mại, du lịch và hội nhập quốc tế.
Bên cạnh đó, Hà Nội còn là đầu mối đường sắt quan trọng của cả nước. Từ Hà Nội, các tuyến đường sắt có thể kết nối với nhiều khu vực khác nhau, góp phần đa dạng hóa hệ thống vận tải. Đặc biệt, thành phố đang từng bước phát triển hệ thống đường sắt đô thị hiện đại nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại ngày càng lớn trong quá trình đô thị hóa nhanh. Các tuyến metro không chỉ giúp người dân di chuyển thuận tiện hơn mà còn góp phần giảm ùn tắc giao thông, giảm ô nhiễm môi trường và xây dựng hình ảnh một đô thị văn minh, hiện đại.
Ngoài đường bộ, đường sắt và hàng không, Hà Nội còn có điều kiện phát triển giao thông đường thủy nhờ hệ thống sông ngòi như sông Hồng, sông Đuống và sông Đáy. Mặc dù đường thủy không giữ vai trò nổi bật như các loại hình vận tải khác, nhưng vẫn có ý nghĩa trong vận chuyển hàng hóa và hỗ trợ giao thương với các địa phương trong khu vực.
Nhìn chung, hệ thống giao thông và hạ tầng của Hà Nội ngày càng được đầu tư hoàn thiện theo hướng hiện đại và đồng bộ. Sự phát triển của các loại hình giao thông không chỉ đáp ứng nhu cầu đi lại, vận chuyển ngày càng tăng mà còn góp phần quan trọng vào quá trình đô thị hóa, phát triển kinh tế và nâng cao vai trò trung tâm của Hà Nội trong mạng lưới liên kết vùng và quốc gia.
Cảng hàng không quốc tế Nội Bài
Cảng cạn ICD Mỹ Đình
Đường ô tô cao tốc Hà Nội – Hải Phòng.
Đường cao tốc Hà Nội – Thái Nguyên.
Về lãnh đạo chủ chốt của thành phố hiện nay, Bí thư Thành ủy Hà Nội là Nguyễn Duy Ngọc, được Bộ Chính trị điều động, phân công giữ chức vụ này từ tháng 11/2025. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội hiện là Vũ Đại Thắng, được HĐND thành phố bầu giữ chức vụ này vào cuối tháng 11/2025; các thông tin chỉ đạo, điều hành của UBND thành phố trong tháng 3/2026 cũng thể hiện ông đang là người đứng đầu chính quyền thành phố. Đây là hai vị trí lãnh đạo có vai trò then chốt trong việc định hướng chiến lược phát triển và tổ chức quản lí toàn diện Thủ đô.
Bí thư Thành ủy:
Nguyễn Duy Ngọc
Chủ tich UBND:
Vũ Đại Thắng
Về các mã nhận diện hành chính và hạ tầng liên lạc, Hà Nội hiện sử dụng mã vùng điện thoại cố định 024. Khi gọi từ địa phương khác trong nước, người gọi quay 024 + số thuê bao; khi gọi từ nước ngoài vào Hà Nội, dùng +84 24 + số thuê bao. Đối với phương tiện giao thông đăng ký tại Hà Nội, thành phố hiện sử dụng các đầu số biển kiểm soát 29, 30, 31, 32, 33 và 40. Đây là địa phương có nhiều đầu số biển số xe nhất cả nước, phản ánh quy mô dân số lớn, mức độ đô thị hóa cao và số lượng phương tiện rất lớn của Thủ đô.
Về ranh giới hành chính, Hà Nội tiếp giáp với nhiều tỉnh, thành quan trọng của miền Bắc. Theo giới thiệu địa lí chính thức của thành phố, phía bắc Hà Nội giáp Thái Nguyên và Vĩnh Phúc; phía đông giáp Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên; phía nam giáp Hà Nam và Hòa Bình; phía tây giáp Hòa Bình và Phú Thọ. Như vậy, Hà Nội không chỉ tiếp giáp với khu vực đồng bằng mà còn nối trực tiếp với vùng trung du, tạo nên vị trí giao thoa rất quan trọng về tự nhiên, kinh tế và giao thông. Nhờ đó, thành phố có điều kiện mở rộng không gian đô thị, phát triển các hành lang kinh tế và tăng cường liên kết vùng với nhiều địa phương xung quanh.
Hồ Hoàn Kiếm (thường gọi là Hồ Gươm) là hồ nước ngọt nằm ở trung tâm quận Hoàn Kiếm, được xem là một trong những biểu tượng nổi bật nhất của Thủ đô Hà Nội. Hồ không chỉ có giá trị về mặt cảnh quan mà còn gắn bó chặt chẽ với lịch sử và đời sống tinh thần của người dân Hà Nội. Theo truyền thuyết, sau khi đánh thắng quân Minh, vua Lê Lợi đã trả lại thanh gươm thần cho Rùa Vàng tại hồ này, vì vậy hồ được đặt tên là Hoàn Kiếm, nghĩa là “trả gươm”. Truyền thuyết ấy đã làm cho Hồ Gươm trở thành một địa danh thiêng liêng, gắn với tinh thần yêu nước và khát vọng độc lập của dân tộc. Quanh hồ có nhiều công trình nổi tiếng như Tháp Rùa nằm giữa mặt nước, Đền Ngọc Sơn, Cầu Thê Húc, Tháp Bút và Đài Nghiên, tạo nên một quần thể kiến trúc và cảnh quan hài hòa, cổ kính. Ngày nay, Hồ Hoàn Kiếm không chỉ là điểm tham quan hấp dẫn của du khách trong và ngoài nước mà còn là không gian sinh hoạt văn hóa, vui chơi, đi bộ và thư giãn quen thuộc của người dân Thủ đô.
Phố cổ Hà Nội là khu đô thị cổ nằm ở trung tâm thành phố, từ lâu nổi tiếng với bề dày lịch sử và nét văn hóa truyền thống đặc sắc. Khu vực này thường được gọi là “36 phố phường”, bởi xưa kia mỗi con phố thường gắn với một nghề thủ công hoặc một loại hàng hóa riêng, chẳng hạn như Hàng Bạc, Hàng Đào, Hàng Mã, Hàng Gai, Hàng Thiếc. Điều đó phản ánh rõ nét sự phát triển sớm của hoạt động buôn bán, thủ công nghiệp và đời sống đô thị ở kinh thành Thăng Long xưa. Phố cổ mang dáng vẻ rất riêng với những ngôi nhà ống hẹp ngang, mái ngói cũ, mặt tiền nhỏ nhưng chiều sâu dài, vừa là nơi ở, vừa là nơi sản xuất và buôn bán. Trải qua thời gian, dù chịu nhiều tác động của đô thị hóa, khu phố cổ vẫn giữ được nhiều nét sinh hoạt truyền thống, từ kiến trúc, nếp sống đến văn hóa ẩm thực. Ngày nay, đây là một trong những điểm du lịch hấp dẫn nhất của Hà Nội, nơi du khách có thể dạo quanh các con phố nhỏ, thưởng thức ẩm thực đường phố, mua sắm đồ thủ công và cảm nhận rõ hơn nhịp sống, vẻ đẹp cổ kính của Hà Nội nghìn năm văn hiến.
Văn Miếu – Quốc Tử Giám là quần thể di tích lịch sử – văn hóa đặc biệt nổi tiếng của Hà Nội, nằm ở khu vực trung tâm thành phố. Công trình được xây dựng từ thế kỉ XI dưới thời nhà Lý. Ban đầu, Văn Miếu được lập để thờ Khổng Tử, các bậc hiền triết và những người có công với nền giáo dục Nho học. Sau đó, Quốc Tử Giám được xây dựng ngay trong khuôn viên này và trở thành trung tâm đào tạo Nho học cao cấp, thường được xem là trường đại học đầu tiên của Việt Nam. Toàn bộ quần thể gồm nhiều hạng mục kiến trúc có giá trị như cổng tam quan, hồ Văn, Khuê Văn Các, giếng Thiên Quang, nhà bia tiến sĩ và các điện thờ, được bố trí cân đối, hài hòa theo trục dọc, thể hiện rõ phong cách kiến trúc truyền thống. Đặc biệt, hệ thống bia tiến sĩ khắc tên những người đỗ đạt cao trong các khoa thi thời phong kiến là nguồn tư liệu lịch sử vô cùng quý giá, đồng thời thể hiện truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo của dân tộc. Ngày nay, Văn Miếu – Quốc Tử Giám không chỉ là điểm tham quan nổi tiếng mà còn là nơi tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, giáo dục, nhất là vào dịp đầu năm học hoặc mùa thi, khi nhiều học sinh, sinh viên đến dâng hương, cầu mong học hành tiến bộ.
Quảng trường Ba Đình là một địa danh có ý nghĩa lịch sử và chính trị đặc biệt quan trọng của Việt Nam, nằm ở trung tâm thủ đô Hà Nội. Đây là nơi vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì sự kiện trọng đại đó, Quảng trường Ba Đình trở thành biểu tượng thiêng liêng của nền độc lập dân tộc và là nơi ghi dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử hiện đại của đất nước. Quảng trường có không gian rộng lớn, thoáng đãng, được quy hoạch trang nghiêm với thảm cỏ xanh chia thành nhiều ô vuông đều nhau, tạo nên vẻ đẹp hài hòa và solemn đặc trưng. Đây là nơi thường diễn ra các lễ mít tinh, diễu binh, diễu hành và những hoạt động chính trị quan trọng của quốc gia. Không chỉ có ý nghĩa về mặt chính trị, Quảng trường Ba Đình còn là địa điểm tham quan quen thuộc đối với người dân và du khách khi đến Hà Nội, bởi nơi đây gắn liền với hình ảnh trang nghiêm, thiêng liêng của Thủ đô.
Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, thường được gọi là Lăng Bác, nằm trong khu vực Quảng trường Ba Đình và là một trong những công trình có ý nghĩa đặc biệt đối với nhân dân cả nước. Đây là nơi gìn giữ lâu dài thi hài của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Lăng được xây dựng trang nghiêm, bề thế, mang kiến trúc vững chãi, giản dị nhưng uy nghiêm, thể hiện lòng kính yêu và sự biết ơn sâu sắc của nhân dân đối với Bác Hồ. Phía trước lăng là Quảng trường Ba Đình rộng lớn, phía sau là khu vực cây xanh và các công trình tưởng niệm, tạo nên không gian vừa trang trọng vừa thanh bình. Đối với người dân Việt Nam, Lăng Bác không chỉ là một công trình kiến trúc mà còn là nơi thể hiện tình cảm thiêng liêng đối với vị cha già dân tộc. Mỗi ngày, rất nhiều người dân trong nước và bạn bè quốc tế đến đây để vào lăng viếng Bác, tham quan khu vực Phủ Chủ tịch, nhà sàn và ao cá Bác Hồ. Vì vậy, khu vực Lăng Bác không chỉ có giá trị lịch sử, chính trị mà còn là điểm tham quan mang ý nghĩa giáo dục truyền thống sâu sắc đối với các thế hệ người Việt Nam.
Hoàng thành Thăng Long là quần thể di tích lịch sử đặc biệt quan trọng nằm ở trung tâm Hà Nội, gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của kinh đô Thăng Long qua nhiều triều đại. Công trình có nguồn gốc từ khi vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long vào năm 1010, từ đó nơi đây trở thành trung tâm quyền lực chính trị của đất nước trong suốt nhiều thế kỉ. Hoàng thành không chỉ là nơi ở và làm việc của vua cùng triều đình mà còn là biểu tượng của quốc gia phong kiến độc lập, tự chủ. Trong quần thể này có nhiều công trình tiêu biểu như Đoan Môn, nền Điện Kính Thiên, Hậu Lâu, Bắc Môn, Cột cờ Hà Nội cùng nhiều dấu tích khảo cổ học có giá trị lớn. Những lớp di tích chồng xếp lên nhau qua các thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn cho thấy sự phát triển liên tục và lâu dài của kinh đô Thăng Long. Năm 2010, khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới, khẳng định giá trị nổi bật toàn cầu về lịch sử, kiến trúc và khảo cổ học. Ngày nay, đây là địa điểm có ý nghĩa đặc biệt trong nghiên cứu lịch sử dân tộc, đồng thời là điểm đến hấp dẫn đối với du khách khi tìm hiểu về chiều sâu văn hiến của Hà Nội.
Lễ hội Gióng là một trong những lễ hội văn hóa – tín ngưỡng tiêu biểu và có giá trị đặc biệt của vùng đồng bằng Bắc Bộ, được tổ chức hằng năm tại các địa điểm gắn với truyền thuyết Thánh Gióng, tiêu biểu là khu vực Phù Đổng (huyện Gia Lâm) và Sóc Sơn (Hà Nội). Lễ hội thường diễn ra vào tháng 4 âm lịch (ở Sóc Sơn) và tháng 3 âm lịch (ở Phù Đổng), nhằm tưởng niệm và tôn vinh Thánh Gióng – vị anh hùng dân tộc trong truyền thuyết, biểu tượng cho tinh thần chống giặc ngoại xâm và sức mạnh quật cường của dân tộc Việt Nam. Tín ngưỡng thờ Thánh Gióng không chỉ phản ánh truyền thống yêu nước mà còn thể hiện niềm tin của cộng đồng vào sức mạnh chính nghĩa và sự bảo trợ thiêng liêng đối với quốc gia.
Lễ hội có nguồn gốc lâu đời, gắn liền với truyền thuyết về Thánh Gióng – người anh hùng nhổ tre đánh giặc Ân, sau đó cưỡi ngựa sắt bay về trời. Truyền thuyết này đã được lưu truyền qua nhiều thế hệ và trở thành một phần quan trọng trong hệ thống thần thoại và tín ngưỡng dân gian Việt Nam. Từ đó, lễ hội Gióng được hình thành như một nghi lễ tưởng niệm mang tính cộng đồng, thể hiện lòng biết ơn đối với công lao của các vị anh hùng dân tộc, đồng thời giáo dục truyền thống lịch sử và tinh thần đoàn kết cho người dân.
Phần lễ của lễ hội được tổ chức trang nghiêm với nhiều nghi thức mang tính biểu tượng cao, bao gồm lễ dâng hương, lễ rước kiệu, lễ tế và đặc biệt là nghi thức tái hiện trận đánh của Thánh Gióng chống giặc Ân. Trong đó, các vai diễn như “ông Hiệu”, “cô Tướng”, đội quân phù giá và các đạo cụ như roi tre, cờ lệnh… được chuẩn bị công phu, góp phần tái hiện sinh động không khí chiến trận. Các nghi lễ này không chỉ mang ý nghĩa tâm linh mà còn phản ánh nghệ thuật trình diễn dân gian độc đáo, kết hợp giữa yếu tố lịch sử, tín ngưỡng và sân khấu hóa truyền thống.
Bên cạnh phần lễ, phần hội diễn ra sôi nổi với nhiều hoạt động văn hóa dân gian như hát chèo, múa rối, các trò chơi truyền thống và sinh hoạt cộng đồng. Đây là dịp để người dân và du khách tham gia vào không gian lễ hội, cảm nhận rõ nét bản sắc văn hóa của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Lễ hội cũng thu hút đông đảo khách tham quan, góp phần quảng bá hình ảnh văn hóa Hà Nội và thúc đẩy phát triển du lịch địa phương.
Với những giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng, lễ hội Gióng đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Lễ hội không chỉ góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống mà còn củng cố bản sắc dân tộc, tăng cường sự gắn kết cộng đồng và truyền tải những giá trị lịch sử – tinh thần quý báu của dân tộc Việt Nam qua nhiều thế hệ.